Mành Tre Xeo Giấy Giữ Nếp Thư Viện
Chương 6: Khói Bếp Khử Men Chua
Nắng sớm rọi qua những kẽ nứa rách của gian xưởng hoang, dát một vệt vàng ấm áp lên vách đất nung. Khấu Hoài Ân thu hồi ánh nhìn nơi mặt suối Hạc, quay sang nhìn đứa trẻ vừa dập đầu nhận mình làm thầy. Cảnh Chu đứng dậy, hai đầu gối còn vương vụn đất ẩm, nhưng trong đôi mắt trũng sâu đã không còn vẻ hoang mang, tuyệt vọng của một kẻ cùng đường. Thay vào đó là nét trầm tĩnh, kiên định lạ thường.
“Thầy ơi,” Cảnh Chu cất tiếng, hai bàn tay đan vào nhau trước ngực đầy cung kính. “Bảy ngày nữa nha môn sẽ đến đòi sổ. Tập sổ thuế cũ nát kia dày cộp, con muốn bắt tay vào chép ngay từ hôm nay.”
Khấu Hoài Ân lắc đầu, khẽ mỉm cười xua tay:
“Chớ vội. Nếu chỉ chép lại lên loại giấy rơm tầm thường, dù nét chữ của con có rành mạch đến đâu, chỉ cần Tiền Bằng và Diêu Chấn Khang lật lọng vẩy một giọt nước chè hay cố tình bôi bẩn, giấy mục tan rã thì bao công sức cũng trôi sông trôi biển. Ta muốn con chép trên một thứ giấy chưa từng có ở huyện Bình Xương này. Thứ giấy ấy phải chịu được nước, trơ trước lửa trấu, bền bỉ qua năm tháng để làm bằng chứng thép trước công đường.”
Cụ đưa mắt nhìn đống rơm nếp vàng óng mà bác Lý trưởng Đỗ Thung cùng bà con thôn Thanh Khê chở sang hôm trước, chất cao quá nửa gian chái bếp.
“Muốn giấy bền ngàn năm, khâu mấu chốt đầu tiên nằm ở khói bếp khử men chua. Mau theo ta, dọn sạch sân gạch, chuẩn bị đốt rơm lấy tro.”
Hai thầy trò bắt tay vào việc. Dưới sự chỉ dẫn tỉ mỉ của cụ Khấu, Cảnh Chu ôm từng bó rơm nếp sạch, rũ bỏ hết bụi cát rồi xếp thành từng cụm tơi xốp giữa khoảng sân nhỏ bên bờ suối. Cụ Khấu châm một mồi lửa từ bồ trấu ủ. Ngọn lửa màu đỏ cam bốc lên, liếm láp từng sợi rơm khô, khói lam bay nghi ngút mang theo mùi thơm ngọt ngào của mùa gặt mới. Khi đống rơm cháy rụi, chỉ còn lại một lớp tro mịn màng, xôm xốp mang sắc xám bạc lóng lánh như bụi bạc.
Chờ tro nguội bớt, cụ Khấu bảo Cảnh Chu xúc tro đổ vào một vò sành lớn, múc nước suối Hạc trong vắt đổ ngập tới miệng vò rồi dùng thanh tre khuấy đều theo một chiều. Nước tro đục ngầu, cuộn lên lớp bọt xám sẫm.
“Bây giờ phải đợi tro lắng xuống đáy,” cụ Khấu vừa lau tay vào vạt áo chàm, vừa từ tốn bảo. “Làm giấy cũng như tôi luyện tâm tính, từng bước đều cần sự nhẫn nại. Nước có trong thì lòng mới sáng.”
Sau hai khắc, lớp cặn tro nặng trĩu chìm hẳn xuống đáy vò, để lại một lớp nước phía trên trong veo, phảng phất ánh vàng nhạt như nước chè nõn. Cụ Khấu trải một mảnh vải thô sạch lên miệng hũ sành thứ hai, cẩn thận nghiêng vò chắt từng dòng nước gạn qua lớp vải lọc. Dòng nước chảy xuống róc rách, không hề gợn một hạt bụi rơm.
Cụ Khấu nhúng đầu ngón tay trỏ vào bát nước tro vừa gạn, đưa lên đầu lưỡi nếm thử rồi gật gù hài lòng. Cụ vẫy tay gọi Cảnh Chu lại gần:
“Con nếm thử một chút xem.”
Cảnh Chu chớp mắt ngạc nhiên, nhưng không chút do dự làm theo lời thầy. Thiếu niên khẽ chạm đầu lưỡi vào giọt nước tro trong vắt, chân mày hơi nhíu lại:
“Thưa thầy... nước không hề có mùi khét, vị mặn man mát nơi đầu lưỡi nhưng đọng lại một chút chát tê, thanh sạch lạ lùng.”
Khấu Hoài Ân bật cười, ánh mắt sáng ngời vẻ tự hào của một người nắm giữ tinh hoa bách nghệ:
“Đúng vậy. Đám thợ tầm thường ở các quan xưởng thường hám lợi làm ẩu, gom vỏ cây về chỉ giã qua loa rồi ngâm nước lã, khiến cho chất nhựa đắng và men chua tự nhiên của cây cỏ vẫn còn ủ kín bên trong thớ sợi. Men chua ấy gặp ngày mưa ẩm ướt sẽ phát tác, tự cắn xé làm mủn rách từng liên kết, biến tờ giấy thành mồi ngon cho mối mọt mục rữa chỉ sau vài ba năm. Nhưng nước tro rơm nếp gạn trong này lại là khắc tinh của thứ men chua độc hại đó.”
Cụ chỉ tay vào nong vỏ dâu tằm trắng muốt đang phơi bên bờ rào:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…