Mặt Chiêng Đồng Chắn Vết Nứt Non Cao
Chương 6: Bàn Tay Nối Bễ Than
A Mẫn giật mình bước vội đến bên cạnh khi thấy cụ Từ Vĩnh Xuyên quỳ gối áp chặt tay xuống nền đất lạnh. Thiếu niên cúi người, lo lắng đỡ lấy khuỷu tay gầy guộc của ông nội:
“Ông ơi, lòng đất lại chuyển động sao ông?”
Cụ Từ từ từ mở mắt, ánh nhìn đăm chiêu hướng về phía chân móng xưởng rèn, nơi hơi nóng âm ỉ bốc lên từ kẽ nứt sâu một trăm hai mươi trượng dưới lòng núi Hạc Ngực. Cụ thở dài một tiếng thật khẽ, bàn tay chai sần vỗ nhẹ lên mu bàn tay rắn rỏi của đứa cháu trai:
“Khí nóng đang dâng lên, thạch mạch đã rạn thì ruột non ắt phải sốt. Nhưng đêm nay đất tạm nghỉ rồi, hai anh em con mau vào chõng chợp mắt lấy sức.”
A Mẫn khẽ cắn môi gật đầu, dìu cụ vào gian nhà sàn sau xưởng. Thế nhưng suốt nửa đêm còn lại, cậu trằn trọc không sao nhắm mắt, tai luôn vẳng nghe hơi thở nhọc nhằn của thung lũng cùng nỗi uất nghẹn trước thói ngang ngược của đám tuần sai.
Sớm hôm sau, sương mù bảng lảng tràn qua những rặng vầu đầu ngõ. Ánh rạng đông vừa le lói rọi xuống doi đất cao, xưởng gò Từ Gia đã chìm trong một sự vắng lặng khác thường. Tấm biển gỗ thông quét sơn đỏ chót với bốn chữ Cấm Gõ Chiêng Đồng cắm phập nơi bờ rào đá như một vết chém thô bạo rạch đôi không khí yên bình. Mọi ngày, hễ khói lò vừa tỏa là mấy bác nông dân ở xóm dưới đã í ới ghé qua mượn đe tán lại chiếc lưỡi cuốc, hay bà con đi rừng rẽ vào xin vài mảnh đồng vụn chắp lại cán dao. Vậy mà sáng nay, con đường mòn đất đỏ trước cổng xưởng không một bóng người qua lại. Vài người gánh củi từ xa vừa ngước nhìn thấy tấm biển cấm sơn đỏ liền vội vã cúi gằm mặt, rảo bước đi thật nhanh như sợ vướng phải vạ lây từ tráp lệnh quan phòng.
Dưới mái hiên ám khói, A Mẫn đứng sững nhìn ra cổng, hai bàn tay siết chặt đến mức các khớp ngón trắng bệch. Sự ghẻ lạnh bất đắc dĩ của xóm giềng cùng nỗi oan ức nghẹn ứ nơi lồng ngực khiến máu trong người cậu sôi lên sùng sục. Cậu vớ lấy cây rìu cùn, quăng mạnh khúc gỗ nghiến nỏ lên đụn thớt rồi giáng từng nhát bổ chém chan chát. Từng thớ củi cứng như đá toác ra dưới lưỡi rìu, văng tung tóe khắp nền đất nện:
“Chỉ vì một mảnh gỗ thông vô lý mà người làng tránh xưởng ta như tránh hủi! Con không chịu nổi cái uất này nữa. Con phải lên trạm tuần tìm tên Tiết Hồng Quan và đám thợ mỏ Thiết Lôi hỏi cho ra nhẽ!”
“A Mẫn, buông rìu xuống.”
Tiếng nói trầm ấm, khoan thai cất lên từ phía sau lưng. Cụ Từ chậm rãi bước ra, trên người vẫn vận chiếc áo chàm cũ kỹ cài khuy bện chỉ gai, tay cầm que sắt cời than. Cụ nhìn đống củi nghiến bị băm vằm nham nhở, ánh mắt vừa bao dung vừa nghiêm nghị:
“Củi nghiến nỏ sinh ra là để đượm than giữ lửa, chứ đâu phải để người thợ trút cơn giận mù quáng. Con băm nát thớ gỗ như thế, lúc vào lò lửa chỉ bốc bùng lên một chốc rồi tàn lụi thành tro lạnh, làm sao nung nổi khối đồng?”
A Mẫn buông rơi cán rìu, ngực phập phồng thở dốc, giọng nghẹn lại:
“Nhưng ông nội, bọn chúng đổi trắng thay đen, ức hiếp xưởng ta quá đáng! Rõ ràng bọn chúng đốt bột sấm sét rạch nát ruột núi, cớ sao lại đổ riệt tội sập đá cho tiếng chiêng cứu người của ông?”
“Đạo làm thợ lấy chữ tĩnh làm gốc, lấy đức dày chở che vật chất.” Cụ Từ bước đến gần đụn tro lò, đưa que sắt gạt nhẹ lớp muội xám trên bề mặt, để lộ ra những đốm than hồng âm ỉ ẩn sâu bên dưới. “Người đời khi sợ hãi thì mắt mờ tai điếc, kẻ gian lại khéo dùng vàng bạc và uy quyền che đậy dối trá. Nếu con đem nắm đấm và sự giận dữ ra đáp lại, con chẳng qua cũng chỉ giống như một hòn đá lở hung hăng lăn xuống dốc mà thôi.”
Cụ Từ quay sang nhìn A Mẫn, ánh mắt đĩnh đạc lạ thường:
“Lại đây với ông.”
Cậu thiếu niên nuốt khan một tiếng, bước lại đứng cạnh lò đất nện. Cụ Từ cầm kẹp sắt gắp một thỏi đồng hun vừa qua lửa đỏ rực đặt lên mặt đe đá, rồi nắm lấy cổ tay A Mẫn, hướng dẫn cậu áp các đầu ngón tay cách bề mặt kim loại chừng nửa tấc:
“Nhắm mắt lại, điều hòa hơi thở. Đừng nhìn ánh lửa lòe loẹt, hãy dùng xúc giác của người thợ đúc để cảm nhận thớ kim loại. Con thấy gì?”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…