Mẻ Đường Phèn Trong Lắng Sóng Gia Tộc
Chương 3: Vực sâu canh bạc
Chu Thúc Khiêm cắm đầu rảo bước thật nhanh qua triền phù sa bến sông Trà Khúc, bóng lưng gầy guộc như muốn trốn chạy khỏi ánh nhìn cương trực của thằng Triết. Luồng gió từ cửa biển thổi thốc vào bờ bãi, lay giật rặng tre ngà xào xạc, nhưng không xua nổi ngọn lửa thiêu đốt đang âm ỉ cồn cào nơi lồng ngực y. Y lủi nhanh qua khoảng sân lò ngổn ngang những gióng mía de, lách qua chái bếp còn vương mùi mật nướng rồi lẻn vào căn phòng hẹp ở chái đông của chi thứ.
Cánh cửa gỗ mộc khép vội. Khiêm run rẩy cài chặt then lim đã mòn vẹt, tựa lưng vào mép cửa thở dốc. Căn buồng ẩm thấp tối om, chỉ lọt qua khe liếp vài vệt sáng nhạt nhòa của buổi ban trưa. Bàn tay khô ráp, nhớp nháp mồ hôi của y thọc sâu vào bọc áo the thâm sờn mép, móc ra mảnh giấy điều đỏ gập tư mà Lại Bá Hào vừa lén dúi cho lúc nhổ sào.
Mảnh giấy đỏ au như một đốm than hồng làm da thịt y bỏng rát. Khiêm nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt, ngón tay run lẩy bẩy mở từng nếp gấp.
Nét mực tàu đen kịt đập thẳng vào mắt y, tựa như hàm răng sắc nhọn của ác thú chực nuốt chửng linh hồn. Đó chính là tờ văn tự nợ năm trăm đồng bạc Đông Dương hoa xòe từ sới bạc Thu Xà. Phía góc dưới, dấu điểm chỉ bằng mực đỏ của chính ngón tay cái y vẫn còn tươi rói, nằm cạnh nét chữ ký sắc lạnh của Lại Bá Hào. Dưới cùng là dòng chữ ghi thêm ngắn ngủi nhưng lạnh buốt xương tủy: “Hạn chót ba ngày. Quá hạn không tiền, chém tay gạt nợ. Muốn giữ mạng, chập tối nay ra bến vắng sau rặng tre.”
— Năm trăm đồng bạc… Trời đất ơi!
Khiêm rên lên một tiếng nghẹn ứ, hai đầu gối bủn rủn khuỵu xuống mép chõng tre ọp ẹp. Cả thân hình y co rúm lại, hai bàn tay ôm chặt lấy đầu.
Ký ức kinh hoàng ba đêm trước tại sới bạc bến cảng Thu Xà bỗng chốc ùa về như một cơn ác mộng sống sượng. Gian nhà lá mù mịt khói thuốc phiện, tiếng bát đĩa xóc súc sắc va nhau chan chát, những ánh mắt đỏ ngầu như thú dữ. Khiêm nhớ rõ mồn một cái khoảnh khắc y run rẩy mở bát, ngửa mặt nhìn bốn đồng vị ngửa nghiêng mà đất trời dưới chân như sụp đổ. Năm trăm đồng bạc ròng bay biến trong chớp mắt. Lũ tay chân bặm trợn mình xăm vằn vện lập tức ập tới, khóa chặt then cửa. Một lưỡi dao bầu sáng loáng dằn mạnh xuống mặt bàn gỗ lim, cắm phập sát mép bàn tay đang run rẩy của y.
Tiếng gã chưởng quầy Lại Bá Hào ngày hôm đó không hề giả lả như khi đối diện cụ Cố, mà lạnh tanh như dao cứa: “Chu hiền đệ, sới bạc Vạn Hưng không nuôi kẻ quỵt nợ. Năm trăm đồng bạc hoa xòe, thiếu một cắc thì cứ một ngón tay gãy tính mười đồng, cả bàn tay tính một trăm đồng. Liệu mà lo liệu trước ngày rằm, bằng không thì đừng hòng lành lặn về làng An Hội!”
Nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt buồng phổi Khiêm. Năm trăm đồng bạc Đông Dương! Cả cơ ngơi gian chái đông này dẫu bán sạch từng chiếc bát sành, từng manh chiếu rách cũng chưa gom nổi năm mươi đồng, lấy đâu ra món tiền khổng lồ ấy để chuộc mạng?
Nhưng rồi, xen lẫn giữa nỗi khiếp nhược hèn hạ, một đợt sóng cay đắng và đố kỵ bỗng trào dâng nghẹn ứ nơi cổ họng y. Khiêm ngẩng đầu nhìn lên vách đất nứt nẻ, ánh mắt vằn lên những tia máu đỏ.
Y là cháu nội đời thứ ba của cụ Chu Hoài Cảnh, năm nay đã bốn mươi lăm tuổi đầu. Thế nhưng suốt mấy chục năm qua, thân phận con thứ như một cái bóng mờ nhạt, đè nặng lên lưng y. Cha y khi còn sống cũng chỉ là kẻ phụ lò, sớm hôm gánh mật đội củi. Đến đời y, con cháu chi thứ đông đúc nhưng lúc nào cũng phải ngồi chiếu dưới. Ông nội và cha thằng Triết không may đoản mệnh qua đời sớm, y ngỡ rằng vận hội của mình đã tới, họ Chu rồi sẽ phải trông cậy vào người cháu nội này.
Nào ngờ đâu, trong mắt cụ Cố trăm tuổi, chi thứ vĩnh viễn không có cửa chạm tay vào nghiệp lớn! Sáng nay tại gian từ đường, trước mặt chức dịch làng nước, cụ Cố thản nhiên giao trọn quyền giữ vạc, điều phối cả mẻ đường hai trăm tạ cho Chu Vĩnh Triết. Thằng Triết mới hăm mốt tuổi ranh, lông cánh chưa đủ, miệng còn hôi mùi sữa! Vậy mà nó được đứng giữa nhà rường thề thốt đao to búa lớn, được nâng chiếc muôi đồng biểu trưng cho tổ nghiệp. Còn y—người chú họ bốn mươi lăm tuổi—lại bị gạt phăng sang một bên, nhận về phần việc nhặt củi, coi bến nhục nhã ê chề!
— Nội thiên vị… Cả cái họ Chu này đều coi khinh thằng Khiêm này! — Khiêm lẩm bẩm qua kẽ răng, bàn tay bứt rứt vò nát vạt áo the.
Ánh hoàng hôn dần dà nhuộm đỏ ngọn cau đầu ngõ rồi tắt hẳn. Đêm mùa xuân buông xuống thật nhanh, mang theo hơi lạnh ẩm ướt của dòng sông Trà xua tan đi cái ngột ngạt của buổi chiều. Khi ngoài ngõ chỉ còn tiếng côn trùng rả rích và tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân bãi bồi, Khiêm mới lén mở then cửa chái đông.
Y trùm kín chiếc khăn rằn lên đầu, bước đi rón rén như một bóng ma, luồn qua vườn chuối rậm rạp rồi men theo bờ đất trườn ra phía bến vắng.
Nơi khúc quanh rậm rạp của rặng tre già, chiếc thuyền nan nhỏ của Lại Bá Hào đã cắm sào ém mình trong bóng tối sẫm. Mùi thuốc lá thơm nồng nặc phả ra từ mui thuyền. Nghe tiếng bước chân giẫm lên lá khô, một bóng người phốp pháp khẽ nhổm dậy.
— Chu hiền đệ đến đúng hẹn đấy. — Giọng Lại Bá Hào trầm đục, trơn tuột cất lên.
Khiêm bước xuống mép nước phù sa, hai hàm răng va vào nhau cầm cập:
— Lại… Lại huynh! Mảnh giấy nợ này… xin ông thư thả cho tôi ít bữa. Cả họ Chu đang dồn sức vào mẻ đường hai trăm tạ, tôi… tôi không đào đâu ra bạc lúc này!
Lại Bá Hào khẽ cười khẩy, gõ nhẹ chiếc tẩu bịt bạc vào mạn thuyền tạo nên những tiếng lách cách rợn người:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…