Mẻ Đường Phèn Trong Lắng Sóng Gia Tộc
Chương 5: Ngọn gió canh ba
Tiếng mưa rào ngoài bãi bồi sông Trà Khúc đã ngớt, chỉ còn những giọt gianh trĩu nước rỏ từng nhịp tong tỏng từ mái ngói âm dương xuống thềm đá. Đêm điểm canh ba, làng An Hội chìm sâu vào tĩnh mịch, chỉ có tiếng sóng phù sa vỗ ì oạp vào mạn thuyền neo nơi bến lở.
Nơi hiên nhà rường ba gian hai chái, cụ Chu Hoài Cảnh vẫn ngồi thức. Lưng còng dựa mép phản gỗ mít nâu bóng, đôi bàn tay gầy guộc đan trên đầu gậy tre ngà. Ở tuổi một trăm linh hai, giấc ngủ mỏng manh tựa khói sớm; chỉ một cơn gió nhẹ hay tiếng lá rơi ngoài sân cũng đủ làm cụ tỉnh giấc.
Cách đó không xa, tiếng bước chân thằng Triết vừa khẽ khàng đi qua con ngõ đất về buồng nằm. Tiếng then cài cửa vang lên một tiếng “cạch” thật êm rồi im bặt. Thằng chắt đích tôn hai mươi mốt tuổi của cụ cuối cùng cũng yên giấc sau một hồi dầm mưa ngoài bến. Cụ Cảnh khẽ mỉm cười, thầm thương tấm lưng gầy dạn dày sương gió của đứa chắt mồ côi cha từ nhỏ.
Thế nhưng, nụ cười chưa kịp đọng lại trên khóe môi móm mém thì ngọn gió đêm từ mé sông bỗng thốc ngược lên, luồn qua rặng tre ngà ướt sũng rồi hắt thẳng vào chái hiên. Cánh mũi gầy của cụ Cảnh khẽ phập phồng đón lấy luồng hơi ẩm.
Bằng khứu giác hơn một thế kỷ gắn bó với nghề nấu đường, cụ bất chợt giật mình.
Trong hơi ẩm nồng ngái sau mưa, ngọn gió không mang lại hương thơm ngọt lịm của mía de già chín tháng. Trái lại, xộc vào sống mũi cụ là mùi chua lờ lợ, the the và chát gắt — mùi mật non phèn chua bị đốn ép vội vàng từ mạn thượng nguồn, thứ mật tuyệt đối cấm bén mảng đến lò Cảnh Ký.
Chưa dừng lại ở đó, luồng gió sớm vừa đổi hướng đưa hơi từ khu lò nấu tạt qua, cụ Cảnh lại hít thấy một mùi lạ thứ hai: mùi khét nồng của vôi sống!
Một thợ già đứng vạc hơn tám mươi năm như cụ làm sao có thể nhầm lẫn. Vôi tôi kỹ hòa vào vạc mật thì thanh tao dịu nhẹ; còn thứ này đích thị là bột vôi sống chưa tôi, lẫn đầy tạp chất xám xịt. Chỉ cần một vốc bột ấy rơi vào đáy vạc lúc nổi lửa, nước mật lập tức sẽ bị làm chua, nổi váng đục ngầu, bao nhiêu tơ đường sẽ đứt gãy chẳng thể kết tinh.
Linh cảm bất an đè nặng lồng ngực, cụ Cảnh chống gậy tre ngà, khẽ nhìn qua khe liếp nứa bên hông nhà rường. Đôi mắt phủ màng sương mờ đục nheo lại, cố gạn lọc từng vệt bóng tối ngoài sân lò. Dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu lạc nơi góc bếp, cụ lờ mờ trông thấy một bóng người mặc áo the thâm ướt sũng đang lom khom nép sát vách ván, chốc chốc lại dáo dác nhìn quanh như kẻ trộm rình rập nửa đêm.
Bóng đen rón rén lẻn vào gian nhà lò, nơi bốn chiếc vạc đồng đang nằm im lìm. Người nọ đặt ngọn đèn xuống đất, hai tay run bẩy nhấc nắp bổi tre che miệng vạc thứ nhất, lôi từ bọc áo ra một gói giấy dầu lớn.
Dưới ánh lửa chập chờn, y hấp tấp trút từng nắm bột trắng lẫn tạp chất xám vào đáy vạc trống trơn, lấy que củi gạt cho tản đều rồi lấp tro trấu nguội lên trên để giấu vết tích. Xong hai vạc đầu, y vội đậy nắp bổi lại, thổi tắt đèn rồi cắm đầu lủi nhanh ra phía rặng tre ven bờ sông, chìm nghỉm vào màn đêm.
Dù đôi mắt đã mờ sương theo năm tháng, cụ Cảnh chẳng cần nhìn rõ mặt cũng biết kẻ vừa làm điều khuất tất đó là ai. Dáng người gầy rộc, đôi vai nhấp nhô bên cao bên thấp cùng bước chân xiêu vẹo bứt rứt ấy... đích thị là Chu Thúc Khiêm. Đứa cháu nội bốn mươi lăm tuổi của chi thứ họ Chu, giọt máu mà hơn bốn chục năm trước chính tay cụ từng ẵm bồng bên bếp lò ngày Tết.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…