Men Lam Nở Dưới Lửa Tàn
Chương 9: Bí Mật Tro Trấu Nếp
Lão Cố lau vội giọt lệ đục ngầu nơi khóe mắt, đôi bàn tay gầy guộc chầm chậm rút khỏi làn nước men tro trấu nếp phẳng lặng như gương. Trọng nhìn thấy ánh mắt lão thợ cả dừng lại trên người mình, chan chứa niềm cảm kích khôn xiết. Đứng giữa gian lán mịt mờ khói than, chàng cảm nhận rõ sự đổi thay trong ánh nhìn của sư phụ: không còn là nỗi âu lo che chở cho kẻ thợ phụ ngơ ngác thuở nào, mà là sự tin cậy tuyệt đối dành cho người gánh vác cả cơ nghiệp xưởng gốm.
Lão quay sang dặn dò con gái:
“Thanh Nhàn, con cùng mấy thợ bạn đem nắp gỗ đậy kín bể men lại, lấy bùn non miết kín mép vại không để một hạt bụi than hay giọt nước bẩn nào lọt vào. Trọng nhi, đi theo ta.”
Trọng khẽ gật đầu, rảo bước theo sau bóng lưng còng của sư phụ. Cả hai băng qua khoảng sân đất nện ẩm ướt, tiến vào gian nhà thờ tổ nghề gốm nằm nép mình dưới bóng cây bồ đề cổ thụ phía sau quan xưởng. Gian buồng vắng lặng, khói hương trầm mặc tỏa hương ngai ngái, bao phủ lên những hàng bài vị tiền nhân phủ đầy bụi thời gian.
Lão Cố cài chặt then cửa gỗ lim, bước đến bên bệ thờ, cẩn trọng nhấc một chiếc tráp gỗ thị đã lên nước bóng sẫm giấu sau bài vị tổ sư. Mở khóa đồng, lão lấy ra một xấp giấy bản ngả màu vàng úa, mép giấy sờn rách được bọc cẩn thận trong tấm vải điều.
“Trọng nhi, đây là bí thuật ủ men tro vỏ trấu nếp mùa thu của dòng họ Cố ta,” lão Cố hạ thấp giọng, đôi mắt già nua ánh lên vẻ trang nghiêm tột bậc. “Năm xưa, triều đình chê cách làm này quá tốn kém công phu, bắt quan xưởng dùng vôi thường và tro củi tạp để tiện bề định mức bổng lộc, khiến bí kíp dần dà bị mai một. Nhưng lão biết, chỉ có lớp áo men tro trấu nếp đốt âm ỉ mới đủ sức bao bọc, ghìm giữ cho sắc lam chàm nở hoa rực rỡ mà không bị cháy xém dưới ngọn lửa lò rồng dữ dội.”
Lão trải xấp giấy bản trước ngọn đèn dầu, chỉ vào từng dòng chữ nắn nót:
“Vỏ trấu phải lấy từ nếp cái hoa vàng gặt vào cữ sương giáng, hạt vỏ dày và đượm chất tinh túy của đất trời. Trấu đem ủ kín trong hầm đất, đốt bằng lửa ngầm liu riu suốt mấy ngày đêm cho đến khi hóa thành tro xốp nhẹ như mây, tuyệt đối không được để bén lửa ngọn bùng cháy thành tro trắng vô hồn.”
Lắng nghe từng lời gan ruột của sư phụ, Trọng chăm chú nghiền ngẫm. Với kinh nghiệm phục chế cổ vật, chàng hiểu sâu sắc rằng tro trấu nếp nung âm ỉ chính là tinh túy thuần khiết nhất, khi kết hợp với chất vôi tôi sẽ tạo nên lớp men lót tuyệt hảo, giúp men mau chảy đều ở mức hỏa hầu vừa phải và làm dịu đi sức co giãn dữ dội của cốt đất.
“Sư phụ, tro trấu nếp quý giá này, trong xưởng ta liệu còn giữ được bao nhiêu?” Trọng cất tiếng hỏi, ánh mắt lóe lên tia hy vọng.
Lão Cố khẽ mỉm cười, nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt khắc khổ:
“Năm nào cữ thu về lão cũng lén gom góp tro trấu, cất kỹ trong hai vò sành chôn dưới chân cột gian buồng này. Nay giao lại hết cho con.”
Không để phí hoài nửa khắc thời gian, hai thầy trò lập tức đào đất, chuyển hai vò tro trấu nếp ra gian lán phụ. Dưới sự chỉ dẫn của Trọng, lão Cố cùng chàng bắt tay vào công đoạn phối chế bài men lót độc môn.
Trọng cẩn thận đổ tro trấu nếp tơi xốp vào máng gỗ, hòa cùng nước bùn mịn lắng lọc từ đáy sông Lục và bột đá vôi đã được tôi kỹ qua nhiều tuần trăng. Đôi bàn tay Trọng cầm que tre khuấy đều theo một chiều cố định, lắng nghe tiếng nước men chuyển động sánh đặc dần dưới đáy máng. Chàng cúi đầu, ghé sát mặt men ngửi mùi hương nồng ấm của tro rơm rạ quyện với mùi thanh mát của bùn sông. Chất hồ men ngả màu trắng ngà ánh lên sắc biếc non thoang thoảng, bóng mịn và mượt mà tựa như dòng ngọc dịch lỏng. Khi nhấc que tre lên, giọt men chảy xuống thành sợi tơ óng ả, buông tròn trịa không hề đứt đoạn.
“Thành rồi!” Lão Cố thốt lên đầy xúc động. “Nước men lót mịn màng thế này, khi phủ lên cốt phôi sẽ bám chặt như da liền với thịt!”
“Vẫn còn một bước cốt tử nữa, sư phụ,” Trọng điềm đạm đáp. “Chúng ta phải hòa màu men lam để vẽ hoa văn.”
Trọng quay trở lại gian lán kín, nơi Thanh Nhàn đang ngồi canh giữ chiếc hòm gỗ lim niêm phong. Thấy Trọng bước vào, nàng vội vàng tra chìa mở khóa, cẩn trọng bưng liễn sành đựng bột khoáng đá xanh chàm nguyên chất đặt lên mặt bàn.
Dưới ánh đèn lung linh, lớp bột chàm lam mịn màng như phấn thoa mặt, tỏa ra sắc xanh sâu thẳm. Thanh Nhàn dùng chiếc muỗng sừng nhỏ nhẹ nhàng múc từng vốc bột chàm đổ qua lớp rây lụa mỏng vào chiếc âu sành chứa sẵn nước men tro trấu nếp chuyên dùng pha màu.
Trọng xắn cao tay áo, dùng ngón tay trỏ khuấy nhẹ vòng tròn đáy âu. Từng hạt bột khoáng chàm tan êm ái, hòa quyện tuyệt đối vào dòng men tro sánh mịn, biến nước men thành màu xanh lam biếc thăm thẳm tựa làn nước mùa thu.
Chàng nhấc ngón tay lên, miết nhẹ lớp men lam giữa ngón cái và ngón trỏ để cảm nhận độ sánh đặc. Cảm giác trơn mượt, dẻo quánh truyền qua da thịt cho chàng biết tỷ lệ quặng và tro đã đạt đến mức cân bằng tuyệt đối. Chàng khẽ nghiêng âu men, múc thêm vài giọt nước nguồn tinh khiết nhỏ vào để điều chỉnh độ đậm nhạt:
“Độ sánh thế này là vừa vặn nhất. Nếu quá loãng, khi phóng bút vẽ lên phôi mộc, nét mực lam sẽ nhòe nhoẹt theo thớ đất; nếu quá đặc, lớp quặng sẽ cộm lên làm nứt vỡ áo men khi gặp sức nóng ngùn ngụt trong lòng lò.”
Thanh Nhàn chăm chú dõi theo từng cử chỉ điềm tĩnh của chàng, trong mắt ánh lên sự cảm phục khôn xiết:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…