Mối Bện Rơm Vàng Lắng Tiếng Gọi Đò Đêm

Chương 14: Nhen Lại Lương Tri

Từng ngọn gió sớm mang theo hơi nước ngai ngái từ đầm Dạ Trạch thổi qua sân miếu, khẽ lay động vạt áo chàm thô viền chỉ xanh của Doãn Minh Khiêm. Chàng thong thả dừng bước trước bậc thềm gạch tàu, chắp tay cúi đầu thi lễ thật sâu trước cụ bà tóc bạc phơ như cước. Suốt từ lúc gà gáy canh năm, ẩn mình kín đáo dưới tán nhãn cổ thụ rợp bóng sau vườn, chàng đã thu trọn vào tầm mắt toàn bộ màn kịch ô trọc: từ mưu toan lục soát của tên đạo sĩ giảo quyệt, tiếng quát tháo lộng quyền của gã phú hào bụng phệ, cho đến bản lĩnh ung dung, lấy tro gừng dân dã mà bẻ gãy hung hăng tà độc của bậc cao niên giữ miếu.

“Kính chào lão trượng,” Minh Khiêm cất giọng trầm ấm, phong thái đĩnh đạc toát lên vẻ uy nghiêm khó giấu. “Mắt thấy lão trượng dùng nắm tro củi dâu hòa gừng già nướng chín dập tan ngọn lửa ma mị, lại mượn cớ thảo mộc trị phong hàn dạy cho phường bất lương bài học cay xè con mắt, bản quan muôn phần bội phục trí tuệ thâm sâu.”

Cụ Lò khẽ nâng chiếc gậy trúc mộc, đôi mắt trong veo dường như đã thấu tỏ sự đời trăm năm mỉm cười hiền từ:

“Quan lớn quá khen. Chốn thôn dã bùn lầy, già này sống đã một trăm sáu mươi tám tuổi, chỉ biết nương vào cỏ cây đồng nội và lẽ phải trời đất để che chở cho lũ trẻ côi cút. Dáng vẻ quan lớn thanh tao đĩnh đạc, ánh mắt cương trực sáng tựa sao khuê, há phải kẻ bèo nước qua đường tình cờ lạc bước tới chốn miếu hoang?”

Minh Khiêm khẽ mỉm cười, khép vạt áo chàm, hạ giọng đủ để hai bà cháu nghe rõ:

“Lão trượng quả là bậc kỳ nhân tuệ nhãn. Ta là Khâm sai Ngự sử Doãn Minh Khiêm, phụng mệnh triều đình bí mật vi hành thị sát tình hình thuế khóa bất minh vùng đầm lầy sông nước. Mấy tháng qua tại huyện nha, ta nhận thấy sổ sách tô thuế trăm họ bị bòn rút thê thảm, dân chài lâm vào cảnh bần cùng cơ cực, lại nghe đồn đại chuyện hà bá đòi mạng tế thần tàn độc. Đến hôm nay chứng kiến tận mắt, mới hay lũ hào lý câu kết nha môn gieo rắc tà thuyết hại người để che lấp điều khuất tất.”

Nhắc tới nỗi khuất tất, bé Mận đứng bên cột hiên khẽ giật mình, bờ vai gầy run lên. Cụ Lò khẽ thở dài, ra hiệu cho Minh Khiêm ngồi xuống chiếc chõng tre bên chén trà hoa ngâu thơm dịu. Ánh mắt cụ nhìn về phía mặt đầm mờ ảo xa xăm, giọng trầm đượm nỗi xót xa:

“Quan lớn đã mang thanh kiếm công lý tới đây, già này cũng không giấu giếm. Hồi canh năm sớm nay, nhờ sợi dây rơm nếp chín tao ba mối ngâm tro gừng, già cùng cháu Mận đã lần ra tận cùng đáy nước Bến Than Khóc. Con thuyền nan đắm bốn mươi năm trước đang vùi mình dưới lớp bùn sâu. Dưới ấy không có thủy quái, chỉ có bốn bộ hài cốt của gia đình người phu đò oan khuất đang quây quần ôm chặt lấy nhau. Cả bốn đôi tay xương trắng cùng chung sức ghì chặt một chiếc tráp sắt hoen gỉ trước lồng ngực.”

Minh Khiêm chấn động tâm can, hai hàng lông mày nhíu chặt:

“Chiếc tráp sắt?”

“Phải,” Cụ Lò gật đầu, giọng đanh lại. “Chính là cuốn sổ ghi rõ tội ác nhũng lạm ba ngàn lạng bạc trắng và năm trăm hộc thóc tô của phụ thân Trần Bá Hộ cùng quan nha tuần giang thuở trước. Bốn mạng người nhà bác Lái Thiện bị đục thuyền dìm chết giữa giông bão để diệt khẩu. Già này đã neo giữ mối bện rơm nếp tro gừng vào then thuyền dưới đáy nước, đầu dây giấu kín nơi gốc bần chìm dưới thảm bèo tấm. Chứng cứ bốn mươi năm vẫn còn nguyên vẹn nơi đáy bùn buốt giá.”

Lồng ngực Minh Khiêm phập phồng giận dữ. Mối oan thiên cổ, bốn sinh mệnh vùi sâu dưới bùn lạnh suốt ngần ấy năm trời chỉ vì lòng tham vô đáy của lũ sâu mọt đục khoét triều đình! Chàng siết chặt nắm tay, quả quyết:

“Trời cao có mắt, lưới pháp luật tuy thưa nhưng khó lọt! Đã xác định được vị trí thuyền đắm và chiếc tráp sắt, việc cấp bách là phải trục vớt tang vật cùng hài cốt lên bờ trước rằm tháng Bảy. Song, muốn lặn xuống đáy sâu Bến Than Khóc giữa dòng nước lạnh ngắt, cần đến những tay chài dạn dày sóng gió của làng Chàm Đỏ. Ta sợ dân làng bị tà thuyết hà bá dọa dẫm bấy lâu, chưa chắc đã dám dấn thân.”

Cụ Lò đứng dậy, chậm rãi vuốt chòm râu rơm còn vương trên vạt áo:

“Quan lớn chớ lo. Lòng dân như mầm lúa ủ trong tro lạnh, chỉ cần thổi đúng làn gió ấm, lương tri ắt sẽ bùng cháy. Ta hãy sang xóm Bến tìm gặp bác Trương phường chài.”

Không chần chừ, Minh Khiêm cùng cụ Lò và bé Mận men theo bờ mương rợp bóng lau sậy, tránh khỏi tầm mắt tuần đinh để tiến vào xóm Bến. Cụm nhà tranh xơ xác của phường chài nép mình ven khúc sông lặng gió. Trong căn chòi lợp lá gồi của bác Trương – người trùm phường chài tuổi ngoại ngũ tuần, ngực vạm vỡ nhưng lưng đã hơi còng vì sóng gió – mười tráng sĩ thợ lặn giỏi nhất làng đang ngồi vá lưới, mặt mày ai nấy đều ủ dột, hốc hác.

Thấy cụ thủ miếu cùng một trinh nữ và chàng trai mặc áo chàm lạ mặt bước vào, bác Trương vội buông con suốt gỗ, ngạc nhiên đứng bật dậy:

“Cụ bà! Sao cụ lại đưa con bé Mận tới đây giữa ban ngày ban mặt thế này? Tuần đinh của dinh Bá hộ lùng sục rát lắm, chúng mà bắt được con bé thì lôi ra đầm dìm chết mất!”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Khánh My
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Khánh My

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…