Mối Bện Rơm Vàng Lắng Tiếng Gọi Đò Đêm
Chương 15: Bè Mảng Canh Ba
“Đứng lại!”
Hai tráng sĩ xóm Bến toan vác dầm gỗ đuổi theo bóng kẻ mật thám vừa lủi qua bãi bùn lầy, nhưng đầu gậy trúc của cụ Lò đã khẽ cản lại. Cụ nhìn theo vệt sậy rạp xuống mé đường mòn dẫn về dinh lũy cường hào, giọng trầm tĩnh:
“Chớ đuổi theo các con. Bãi sậy lún sâu, kinh động ban ngày chỉ thêm rước họa. Hắn chạy về bẩm báo, lũ tham tàn ắt ngỡ ta nôn nóng muốn quấy đầm ngay, tất sẽ dồn mắt canh phòng bến sông ban ngày.”
Doãn Minh Khiêm khẽ gật đầu, cất tiếng tán đồng:
“Cụ bà liệu việc rất phải. Chúng ta tương kế tựu kế. Bác Trương, mau cho anh em dìm bè mảng cùng cuộn chão tre xuống rạch sâu sau rặng bần, rải bèo ngụy trang. Đợi đến canh ba đêm mười bốn tháng Bảy — thời khắc âm dương giao thoa trước rằm, khi tuần đinh mỏi mệt buông lơi phòng bị — chúng ta sẽ bất thần xuất kích!”
Bác Trương cùng mười tráng sĩ dạ ran, lập tức dìm bè giấu đồ lặn rồi tản về các chòi rạ chờ lệnh.
Suốt mấy ngày sau đó, làng Chàm Đỏ im ắng lạ thường. Bọn tuần đinh lùng sục khắp ngả đường nhưng không thấy động tĩnh gom thuyền hay lặn mò, đinh ninh đám dân chài đã khiếp vía trước uy quyền nha môn.
Và rồi, canh ba đêm mười bốn tháng Bảy đã điểm.
Sương đêm đầm Dạ Trạch buông xuống đặc quánh, lạnh ngắt tựa dao cứa vào da thịt. Gió bấc thổi thốc qua bãi sậy xào xạc, mang theo mùi bùn tanh nồng. Mặt đầm đen thẫm nuốt chửng ánh trăng khuyết mờ sau tầng mây xám.
Từ rặng bần mé nước xóm Bến, chiếc bè mảng ghép bằng thân luồng già rẽ lớp bèo tấm, lặng lẽ lướt ra giữa dòng. Bác Trương cùng mười tráng sĩ mình trần đóng khố, cơ bắp cuồn cuộn nhưng bước chân êm không gợn một tiếng động. Đi sát cạnh chiếc bè là con thuyền nan nhỏ, nơi bé Mận đang vững tay chèo mớm nước theo sự chỉ dẫn của cụ Lò Thị Duyên.
Cụ Lò ngồi xếp bằng ở mũi thuyền, manh áo cánh nâu bay phần phật trong gió đêm. Gương mặt cụ trầm mặc dõi thẳng về phía bãi bần chìm. Dưới ánh lân tinh lập lòe, cụ vươn bàn tay gầy vớt túm bèo ngụy trang. Sợi dây rơm nếp tro gừng chín tao ba mối vẫn nguyên vẹn, nút thắt đồng tâm cột chặt vào rễ bần cổ thụ, đầu dây chìm sâu xuống đáy Bến Than Khóc như dải lụa vàng dẫn lối qua cõi u minh.
Cụ Lò khẽ thở phào, bàn tay vuốt nhẹ mối rơm ấm áp. Oán linh dưới đáy sâu vẫn kiên nhẫn đợi chờ lời hẹn ước ngày về.
Chiếc bè mảng từ từ áp sát vị trí xác thuyền đắm. Gió đêm thốc mạnh, nước đầm rỉ rả vỗ vào mạn luồng lạnh buốt xương tủy. Dù là những tay bơi lặn lão luyện, vài tráng sĩ trẻ vẫn thoáng rùng mình trước vực nước bốn mươi năm tích tụ oan hồn.
Cụ Lò mở chiếc giỏ tre, lấy ra chiếc ấm đất nung bọc kỹ trong lớp rơm ủ ấm, cất giọng từ ái:
“Các con lại đây. Nước Bến Than Khóc ngâm lạnh bốn mươi năm, hàn độc buốt thấu tủy xương. Uống mỗi đứa một ngụm nước gừng già nướng chín này để giữ vững đan điền.”
Cụ rót thứ nước gừng nâu sánh, cay nồng khói củi ra gáo dừa nhỏ. Bác Trương cùng mười chàng trai lần lượt chuyền tay nhau uống cạn. Vị cay ấm lập tức xông vào lồng ngực, lan khắp tứ chi, xua tan cảm giác gai lạnh sống lưng.
Tiếp đó, cụ Lò mở túi vải điều, tự tay buộc từng gói bột tro củi dâu giã mịn hòa nước gừng già nướng sấy khô trước ngực mỗi người:
“Tro củi dâu hòa gừng nướng ngậm thuần dương chi khí của trời đất. Đeo trước ngực, tà khí không thể phạm thân, luồng nước lạnh chẳng thể làm tê liệt gân cốt. Nhà bác Thiện dưới kia là láng giềng ruột thịt, họ đang mong ngóng từng khắc được trở về với đất mẹ. Lòng son sáng rõ thì quỷ thần cũng phải kính nhường.”
Bé Mận quỳ sụp trên sàn thuyền nan, hai tay chắp trước ngực, đôi mắt hoe đỏ:
“Cháu cắn rơm cắn cỏ lạy các bác, các anh! Xin rước bác con cùng các anh các chị lên bờ... Oan khiên bốn mươi năm nay trông cậy cả vào mọi người!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…