Mối Bện Rơm Vàng Lắng Tiếng Gọi Đò Đêm
Chương 20: Trăm Ngọn Hoa Đăng
Nhìn vị Khâm sai Ngự sử trẻ tuổi đang kính cẩn khom mình vái tạ, cụ Lò Thị Duyên khẽ chống cây gậy trúc mộc, đưa bàn tay gầy guộc run rẩy vì sương gió nâng lấy khuỷu tay chàng:
“Quan lớn chớ đa lễ. Già này sống ngót một trăm sáu mươi tám năm, chứng kiến biết bao cảnh tang thương dâu bể. Nỗi oan khiên bốn mươi năm của nhà bác Lái Thiện cũng là vết thương nhức nhối trong lòng già bấy lâu nay. Nay nhờ có tấm lòng thanh liêm cùng uy đức của quan lớn, án đời đã sáng tỏ, kẻ thủ ác phải cúi đầu nhận tội trước công lý. Chuyện nơi cõi dương đã trọn vẹn, thì phần an ủi u linh nơi cõi âm, già này cùng bà con lối xóm ắt phải dốc lòng chu toàn, để người khuất được mồ yên mả đẹp, đưa lại sự thanh bình cho khúc đầm này.”
Nghe lời gan ruột ấy, Doãn Minh Khiêm vô cùng cảm kích. Chàng lập tức cho tráng đinh cẩn trọng rước xác con thuyền nan cùng bốn bộ hài cốt từ sân đình về quàn tại gian tiền tế miếu Cổ Thần Nông, đồng thời trích ngân quỹ tức tốc mua bốn cỗ áo quan gỗ mít vàng ươm đưa về bến.
Trời vừa hửng sáng, sương mù trên ngọn tre bắt đầu tan dần nhường chỗ cho ánh bình minh rạng rỡ. Tin tức về phiên xử phân minh và lễ an táng cho gia đình người lái đò xấu số mau chóng lan truyền khắp các nẻo đường làng Chàm Đỏ.
Khắp ngõ xóm Bến và xóm Miễu, dân làng rộn rã gọi nhau. Từng đoàn người lục tục kéo về trước khoảng sân ngập nắng của ngôi miếu cổ. Người gánh rơm nếp cái hoa vàng phơi qua bảy nắng thơm ngào ngạt, người mang sọt gừng già nướng chín thơm lừng còn bốc khói, người lại bưng những hũ sành tro củi dâu giã mịn. Những khuôn mặt chất phác vốn bao năm hằn sâu sợ hãi tà ma, nay bừng sáng niềm tri ân và nghĩa tình chòm xóm.
Bác Trương dẫn đầu đám thợ chài xóm Bến, đôi mắt hãy còn đỏ hoe sau một đêm dài lặn ngụp sóng gió, bước tới sụp lạy trước thềm miếu:
“Thưa cụ lớn, bà con xóm chài chúng con trước đây u mê nghe lời tà đạo, suýt nữa hại chết đứa cháu vô tội. Nay ơn trời nhờ cụ bà và quan lớn giải oan cho người cùng làng. Chúng con gom hết rơm nếp, gừng thơm mang đến đây, xin cụ rủ lòng sai bảo, để chúng con góp chút công mọn chuộc lại lỗi lầm.”
Cụ Lò mỉm cười từ bi, đôi mắt sáng trong veo nhìn khắp lượt bà con:
“Biết quay đầu tìm về điều thiện, ấy là phúc lành lớn nhất của con người. Các con đứng dậy cả đi, mau cùng già này bện hoa đăng sưởi ấm cho người dưới nước.”
Cụ Lò ngồi xếp bằng trên manh chiếu rách giữa sân miếu, bên cạnh là mẹt tro củi dâu và gừng già nướng chín vàng ươm. Bên tả cụ, bé Mận mặc manh áo nâu vá sạch sẽ đang chăm chú nhặt từng cọng rơm nếp dẻo dai. Bên hữu cụ, ông Can dù hai mắt mù lòa nhưng đôi bàn tay chai sần vẫn cần mẫn tước bỏ lá rơm khô, khóe mắt không ngừng rịn ra những giọt lệ xúc động.
Cụ Lò cầm lấy một nắm rơm nếp cái hoa vàng, từ tốn vuốt phẳng từng sợi rơm óng ánh dưới nắng mai rồi bắt đầu hướng dẫn bé Mận và các bà, các chị xóm Bến:
“Rơm nếp cái hoa vàng gặt đúng tiết sương giáng, ngậm trọn khí trời thuần hậu của đất mẹ. Các con hãy bện từng tao rơm thật đều tay, uốn thành hình chiếc đài sen sáu cánh, chín tao ba mối kết gút vững vàng. Ở chính giữa lòng đài hoa, ta đặt vào vốc tro củi dâu ngậm trọn nước cốt gừng già nướng chín, rồi gài một tim bấc se bằng bông nõn tẩm dầu lai.”
Vừa nói, đôi bàn tay gầy guộc của cụ Lò vừa thoăn thoắt uốn lượn. Từng cọng rơm vàng rực ngoan ngoãn đan cài vào nhau, chỉ trong chốc lát đã thành hình một đài hoa đăng rơm tuyệt đẹp, xòe cánh tựa đóa sen ngát hương.
Bé Mận chăm chú nhìn từng động tác của cụ, đôi mắt đượm buồn khẽ chớp:
“Cụ nội ơi, tro củi dâu với gừng nướng này sẽ giúp các bác và các em bớt lạnh phải không cụ?”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…