Mối Bện Rơm Vàng Lắng Tiếng Gọi Đò Đêm
Chương 3: Hiên Miếu Nương Thân
Nương theo tiếng mõ tre dồn dập cùng luồng gió buốt từ phía đầm Dạ Trạch thổi thốc vào xóm Miễu, cụ Lò Thị Duyên chống gậy trúc rảo bước qua rặng dâm bụt ướt sũng sương đêm. Vừa tới trước khoảnh sân hẹp lầy lội, bóng áo nâu vá sạch sẽ của cụ bỗng khựng lại khi một tiếng gầm gừ man rợ vọng ra từ gian lều rách nát.
Bên trong, cánh liếp nứa đã bị đạp gãy toạc làm đôi. Tờ trát son đỏ quạch nằm trơ trọi trên chiếc phản gỗ mục. Hai tên tuần đinh lực lưỡng thô bạo túm lấy hai cánh tay bé Mận lôi xềnh xệch ra mép cửa. Nàng hoảng loạn giãy giụa, manh áo yếm nâu rách vai lấm lem bùn đất, nước mắt giàn giụa trên đôi gò má xanh xao:
“Thầy ơi! Cứu con với thầy ơi!”
Dưới nền đất ẩm mục, ông Can bò toài trong ánh đuốc lờ nhờ, hai hốc mắt mù lòa đỏ ngầu ngấn lệ. Bàn tay gầy guộc chằng chịt vết sẹo cũ của người cha khốn khổ ôm chặt lấy cẳng chân tên cai tuần mặt rỗ, dập đầu lia lịa xuống nền đất nện sỏi đá đến mức trán toạc máu tươi, tiếng khóc nấc nghẹn ngào bật ra từ lồng ngực teo tóp:
“Lạy các ông lớn! Xin rủ lòng thương xót cha con tôi… Con bé còn dại dột, chưa tròn mười bảy tuổi đầu, sao nỡ bắt nó làm mồi cho cá tôm đáy nước…”
“Buông cái tay bẩn thỉu ra, lão mù khốn kiếp!”
Tên cai tuần mặt rỗ quát lớn. Gã giơ cao ngọn giáo sắt sắc lạnh, toan thúc thẳng cán gỗ lim xuống bờ vai còng queo của người cha mù để rứt chân ra.
“Vút!”
Một ngọn gió bén ngót xé toạc màn sương. Trước khi ngọn giáo hung hãn kịp chạm vào da thịt ông Can, đầu gậy trúc mộc của cụ Lò đã vung lên, lướt qua một đường chuẩn xác chặn ngang khoảng không. Một tiếng “cắc” khô khốc vang lên, chấn lực dẻo dai từ thân trúc già khiến ngọn giáo bật ngược ra sau, tên cai tuần lảo đảo thụt lùi hai bước suýt ngã ngửa trên thềm đất nhão.
“Kẻ nào to gan dám cản trở việc công?”
Tên cai tuần trợn trừng mắt ếch, quát the thé rồi vung đuốc soi thẳng về phía bậu cửa.
Dưới ánh lửa bập bùng, cụ Lò đứng đó, dáng người hơi còng nhưng vững vàng như tảng đá cuội ngâm dưới suối sâu trăm năm. Mái tóc bạc phơ như cước búi gọn gàng cài chiếc trâm tre mộc, manh áo cánh nâu vá sạch sẽ bay là đà trong gió chướng. Đôi mắt già nua điểm những chấm đồi mồi bỗng sáng trong veo, lạnh lẽo và uy nghiêm thấu suốt tâm can kẻ đối diện.
Cụ Lò dằn nhẹ đầu gậy trúc xuống đất ẩm, phát ra một âm vang trầm đục:
“Già này còn thở một hơi ở xóm Miễu, làng Chàm Đỏ chưa đến lượt lũ bay cậy giáo cậy gậy vào đây ức hiếp kẻ tàn tật, bắt bớ gái đồng trinh giữa đêm hôm khuya khoắt!”
Nhìn rõ gương mặt của bậc cao niên tròn một trăm sáu mươi tám tuổi, tên cai tuần cùng đám tuần đinh bỗng chột dạ, sống lưng lạnh toát. Cả vùng đầm lầy Dạ Trạch này, từ đứa trẻ mới thôi nôi cho đến các bậc bô lão trong đình đều kiêng nể bóng áo nâu của cụ thủ miếu Thần Nông cổ. Ngay cả ông nội của Trần Bá Hộ thuở sinh thời, mỗi lần bước qua cổng miếu cũng phải ngả nón bái vọng. Cái oai phong toát ra từ đôi mắt già nua sáng trong veo kia như có sức nặng nghìn cân, khiến đám tuần đinh hung hãn bỗng chốc cứng đờ chân tay.
Tên cai tuần nuốt khan một ngụm nước bọt, cố giữ vẻ hung hăng nhưng giọng đã run rẩy thấy rõ:
“Mụ… mụ Lò! Lệnh ông lớn Bá Hộ và thầy Huyền Không đã định, phải đem con Mận dâng cho hà bá mới yên sóng lặng gió bến Chàm. Mụ già lẩm cẩm mau tránh ra kẻo vạ lây!”
Cụ Lò khẽ nhếch môi, ánh mắt xoáy thẳng vào tâm can tên mặt rỗ:
“Trát son của Bá hộ chưa qua mắt quan trên, chẳng đè nổi đạo trời. Bến đò dậy sóng là do oan khiên chưa dứt, can cớ gì bắt máu đứa trẻ vô tội lấp miệng quỷ dữ? Bay cầm mảnh giấy nhơ bẩn này về bảo với Trần Bá Hộ: già này nói, muốn tế thần thì chính miệng kẻ làm điều thất đức hãy tự bước ra Bến Than Khóc mà tạ tội. Cút ngay!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…