Mồi Lửa Diêm Tiêu Đốt Rực Chí Linh

Chương 16: Vị Mặn Bất Thường

Màn mưa phùn giá rét quất từng cơn tê tái vào khoảng sân lầy lội trước lều trung quân, nơi tấm rèm nứa nặng nề vừa buông sập xuống sau gót chân Tướng quân Đinh Lễ. Tiếng rên xiết của thương binh hòa lẫn trong tiếng gió bấc gầm rít qua rặng nghiến già, dội vào lồng ngực Bàng Khắc Thiệu từng đợt buốt nhói. Đám quân canh xung quanh vẫn đứng sừng sững dưới mưa, những ánh mắt ngập tràn ngờ vực và oán hờn chĩa thẳng vào tấm lưng gầy gò của người thợ mỏ.

Đỗ Vạn bước vội tới, hai bàn tay vấy muội than run rẩy nâng lấy khuỷu tay Thiệu, bờ môi tím tái vì lạnh:

“Thầy... thẻ lệnh đầu hổ đã mất rồi, Tướng quân chỉ cho đúng một ngày một đêm, chúng ta biết tính sao đây?”

Thiệu không đáp lời ngay. Ông xòe bàn tay chai sần, những ngón tay gầy guộc miết chặt vốc hỏa dược ướt nhão vừa móc ra từ nòng khẩu hỏa mai tịt ngòi. Cái lạnh thấu xương ngấm dần qua lớp da nứt nẻ, nhưng trong lồng ngực người thợ già bốn mươi bảy tuổi, sự bấn loạn chưa từng có chỗ nương thân. Từng trải qua bao phen sập hầm chốn phu phen quặng mỏ của giặc Minh, Thiệu hiểu rõ: trong hiểm cảnh ngàn cân treo sợi tóc, kẻ nào mất bình tĩnh trước tiên, kẻ đó cầm chắc cái chết. Một ngày một đêm – mười hai giờ ngắn ngủi. Nếu không tìm ra cội nguồn mẻ thuốc hỏng, chẳng những thủ cấp của ông bị bêu trước ba quân, mà sinh mạng của hàng trăm nghĩa quân Chí Linh cũng sẽ chìm trong biển máu.

“Vào ngách hang.” – Thiệu trầm giọng hạ lệnh, ánh mắt sáng quắc quét qua vạt cỏ lác dập nát nơi bóng áo chàm của Phạm Tích vừa lẩn khuất. “Gom hết thuốc nhão từ các nòng súng bờ suối, mang theo cặn than dưới đáy nong sấy. Chúng ta không có thời giờ để thở dài.”

Ba bóng người rẽ màn sương đêm buốt giá, luồn sâu vào ngách hang đá vôi ăn ngầm sau lưng lán hỏa doanh. Nơi đây sâu hút và kín gió, vách đá dựng đứng ngăn cách hoàn toàn với những ánh mắt dòm ngó bên ngoài. Nang Nhâm khêu đốm bùi nhùi, thắp lên ngọn đèn dầu lạc leo lắt, rồi lấy tảng đá tai mèo lớn chắn bớt luồng sáng để tia lửa không lọt ra ngoài cửa ngách.

Thiệu quỳ một chân xuống nền đất nện ẩm ướt, kéo phiến đá đen phẳng nhẵn đặt ngay ngắn trước ngọn đèn. Bằng đôi bàn tay thô ráp đầy sẹo bỏng diêm tiêu, ông dùng chiếc bay đồng cẩn trọng cạo từng mảng hỏa dược biến chất ra phiến đá. Thứ thuốc súng vốn được phối chế mười phần diêm tiêu trắng muốt cạo từ vách Cổ Lũy, ba phần than thầu tấu xốp nhẹ và một phần bồ hóng, lúc này chẳng khác nào đống bùn đen sền sệt, bốc lên mùi ẩm ngái kỳ dị khó tả.

Ông nhặt mẩu than củi thầu tấu còn sót lại từ nong sấy, đặt lên mặt đá rồi cầm chiếc chày đá giã nhẹ. Từng thớ than vỡ vụn dưới sức nén, nhưng thay vì văng ra hạt bụi mịn khô giòn, mẩu than lại dính chặt vào đầu chày, nhão nhoét như bùn non đáy suối. Thiệu dí que đóm bén lửa vào vốc bột đen. Xoẹt... Một tiếng xì yếu ớt vang lên cùng cụm khói xám mỏng, ngọn lửa lập tức lịm tắt, để lại lớp bọt nước sủi tăm tanh nồng.

“Lạ lùng lắm...” – Vạn ngồi xổm bên cạnh, ôm đầu cay đắng. “Than thầu tấu được con ủ kín trong hố sét suốt hai ngày đêm, lúc dỡ ra sấy đã khô cong như ngói nung. Màng bọc sáp trám tráng đều từng hạt, nước mưa tạt vào còn trôi tuột đi, cớ sao ruột than lại biến thành bùn nhão thế này?”

Thiệu im lặng, nheo mắt chăm chú nhìn từng vệt nước nhờ nhờ trên phiến đá. Trực giác của người thợ mỏ cả đời gắn bó với khoáng thạch mách bảo ông rằng có điều gì đó đi ngược lại quy luật tự nhiên. Đất đá hay cỏ cây ngậm nước mưa rừng Chí Linh chỉ sinh rêu mốc mục ruỗng dần dà, tuyệt đối không thể khiến than củi hóa thành chất nhầy quánh đặc chỉ sau một đêm. Hơn nữa, lớp màng sáp trám bọc ngoài hạt thuốc vẫn nguyên vẹn, chứng tỏ nước không hề thấm từ ngoài vào trong, mà chính ruột than đã tự sinh ẩm từ bên trong phá bung màng sáp.

Ánh mắt Thiệu dừng lại nơi đáy nong tre đựng than sấy mà Vạn vừa mang vào. Dưới những kẽ nứa đan nong, có vài giọt nước đọng lại thành vệt lờ lờ đục, không trong vắt như nước mưa phùn, cũng chẳng ngả vàng như nước ngầm vách đá.

Bằng động tác thuần thục của kẻ từng nếm đất tìm mạch mỏ suốt nửa đời người, Thiệu đưa ngón tay trỏ quệt nhẹ một giọt nước dưới kẽ nong tre, rồi chậm rãi đưa lên đầu lưỡi.

Chỉ một thoáng sau, đôi lông mày rậm rạp của người thợ già giật mạnh. Toàn thân ông cứng đờ, hai mắt mở to trừng trừng nhìn vào phiến đá.

Vị mặn chát!

Đó tuyệt đối không phải là vị the cay xé họng của nhũ diêm tiêu ngàn năm nơi động Cổ Lũy, cũng không phải vị chát ngắt của nhựa vỏ cây rừng. Đó là vị mặn gắt gao, mặn chát đến khé cổ của muối biển đồng bằng pha loãng trong nước suối!

“Là nước muối...” – Thiệu gằn giọng qua kẽ răng, bàn tay siết chặt lấy cán chày đá đến mức các đốt ngón tay trắng bệch. “Không phải do trời ẩm đất ướt, mà là nước muối loãng!”

Đỗ Vạn bàng hoàng trố mắt nhìn thầy:

“Nước muối ư thầy? Ai lại đem muối vẩy vào than sấy làm gì?”

Thiệu quay sang nhìn học trò, ánh mắt đanh thép ánh lên sự căm phẫn tột cùng:

“Muối ăn ngậm hơi ẩm từ trời đất ghê gớm hơn bất cứ thứ gì. Kẻ gian đã hòa muối vào nước suối rồi lén vẩy lên than thầu tấu lúc sấy trên giàn. Muối ngấm sâu vào ruột than xốp. Gặp lửa sấy, nước bốc hơi đi, để lại những hạt muối li ti bám chặt trong ruột than. Nhìn bề ngoài, nong than vẫn đen nhánh, khô ráo. Nhưng khi đem nghiền trộn thành hỏa dược rồi bọc sáp trám, những hạt muối giấu trong than liền âm thầm hút hơi ẩm từ không khí buốt giá của núi rừng Chí Linh. Chúng hút nước vào tận lõi thuốc đạn, làm thuốc chảy rữa từ trong ruột ra, phá nát màng sáp chống ẩm!”

Vạn nghe xong, toàn thân run bắn lên vì kinh sợ:

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…