Mộng Gỗ Cầu Ngói Chặn Dòng Lũ Dữ
Chương 5: Nghi Binh Vượt Ải Tuần Kiểm
Lời cấp báo thất thanh của người phu đò áo quần tả tơi như nhát búa nện thẳng vào lồng ngực Đặng Văn Mộc. Trong gian giữa Thất Diệu Kiều, khói trầm bên khám thờ Lỗ Ban chao đảo trước luồng gió sông lùa thốc qua cửa nhịp. Ba mươi sáu người thợ xóm Ngói nín thở nhìn về phía bờ bắc, nơi ánh đuốc đỏ quạch của đám sai nha bắt đầu nhấp nhô rợn ngợp.
Cụ Thiều Thục Chi vẫn đứng sừng sững, sống lưng thẳng tắp như cột cái lim già. Lão quắc mắt, gõ mạnh cán gậy tre đực xuống mặt sàn:
"Hoàng Bá Khang muốn bịt đường sống của bách tính, nhưng trời cao chưa tuyệt đường người thợ! Chúng cắm cọc sắt ở luồng chính, ắt bỏ lỏng lạch phụ ngập lác bãi dâu. Mộc, con lại đây!"
Mộc bước nhanh tới trước mặt Cụ Cả, hai bàn tay siết chặt chiếc thước tầm gỗ trắc giắt bên sườn. Anh khom người, giọng đanh gọn:
"Xin Cụ truyền lệnh! Dù nước sôi lửa bỏng, con cũng đem đủ tám thân gỗ táu về cứu cầu!"
Đôi mắt sáng quắc của cụ Thiều dừng lại trên gương mặt cương nghị của người học trò. Lão ghé sát tai anh, căn dặn rành rọt từng lời:
"Gỗ táu ngâm bùn chìm sát đáy nước, nặng tựa đá tảng. Đám tuần kiểm chỉ chăm chăm ngó mặt sông, không dò thấu đáy sâu. Cho hai thuyền rơm khô xông vào chốt chính vờ cãi lệnh, dồn hết mắt mũi lũ chó săn về một mối. Con dẫn đám thợ lặn dắt bè men theo luồng ngầm lách qua. Nhớ kỹ, mộng then của Thất Diệu Kiều trông cậy cả vào chuyến đi này của con!"
"Con tuân lệnh Cụ!"
Mộc dập đầu lĩnh ý, rồi quay ngoắt người nhìn về phía đám thợ trẻ xóm Ngói. Anh vung tay điểm mặt bốn tay thợ bơi lặn cừ khôi nhất làng: "Thao, Dũng, Quát, Lãm! Theo ta!"
Không một khắc chần chừ, năm bóng người xé màn đêm lách xuống chân mố cầu. Trời đầu thu tối đen như mực, gió Lục Đầu Giang thổi ràn rạt mang theo hơi ẩm nồng nặc và vị tanh nồng của bọt phù sa. Mộc dẫn đầu cả nhóm bơi ngược lên đầm lầy thượng nguồn nhánh sông, nơi bãi cựu trữ chìm sâu trong lau sậy um tùm.
Dưới làn nước lạnh buốt rát da thịt, tám thân gỗ táu ngâm bùn mười năm tròn vẫn nằm im lìm dưới lớp bùn non. Mộc lặn xuống, bàn tay chai sần rà dọc thớ gỗ đen nhánh, trơn lỳ như sắt nguội. Dù chìm dưới bùn lầy suốt mười năm ròng rã, chất gỗ táu lõi hảo hạng không hề mục ải, trái lại càng đanh chắc, tỏa ra một sức nặng ngàn cân. Cả nhóm thợ phối hợp nhịp nhàng, dùng dây chão bện bằng vỏ cây dâu rừng néo chặt tám thân gỗ thành một bè chìm sát đáy, mỗi đầu dây néo đều buộc thêm đá cuội để ghìm bè dưới mặt nước chừng năm thước.
Nửa đêm canh hai gõ giòn giã từ phía điếm canh đê. Mặt nước sực nức mùi khói đuốc khi cả nhóm tiếp cận trạm tuần kiểm đường thủy của huyện Chí Linh.
Đúng như tin báo, một sợi xích sắt to bằng cổ tay trẻ con được căng ngang luồng lách hẹp giữa hai mỏm đá nhô ra lòng sông. Hơn chục tên lính lệ khoác áo nẹp đỏ lăm lăm giáo mác đứng trên bè mảng canh gác, đuốc nhựa thông cháy bập bùng soi đỏ quạch một góc trời. Tên Cai tuần tay chống đốc kiếm, mặt hếch lên trời quát tháo:
"Hoàng tri huyện đã có trát nghiêm! Cấm tiệt mọi bè mảng gỗ lạt xuôi ngược! Đứa nào dám bén mảng, chém đầu bêu ngọn tre!"
Ngay khoảnh khắc ấy, tiếng chiêng đồng cùng tiếng gõ mạn thuyền rầm rộ vang lên từ phía luồng chính. Hai chiếc thuyền nan chở đầy rơm khô và củi mục bất thần lao thẳng vào tuyến xích sắt. Tiếng người hò hét thất thanh xé toạc màn đêm:
"Cứu mạng! Đò trôi dạt! Mất lái rồi!"
"Đứng lại! Lũ man thứ kia, ai cho chúng mày xông vào luồng cấm?" Tên Cai tuần gầm lên như hổ đói, vung kiếm chỉ trỏ: "Bắn tên! Vây bắt lấy hai chiếc thuyền rơm cho ta! Chắc chắn có gian tế giấu đồ quốc cấm!"

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…