Mùa Nước Nổi Cuốn Theo Hạt Sen Vàng
Chương 23: Hạt sen vàng mùa nước rút
Minh Đăng khép chặt ngón tay, ôm trọn cuốn sổ tay bọc vải dầu năm 1976 của ông nội vào ngực. Hơi ấm từ bàn tay khô ráp của bà nội như vẫn vương trên lớp vải sẫm màu, hòa cùng hương dầu sen hổ phách vừa chắt từ chiếc âu sành, thanh khiết khắp gian hiên. Đêm ấy, ngọn đèn hoa kỳ leo lét soi bóng hai bà cháu bên bộ cối gỗ cho tới tận khi trăng tà.
Con nước lũ tháng Tám hung dữ rồi cũng thuận theo lẽ trời mà dịu lại. Trải qua những ngày triều cường gầm réo, con đê đất thịt mé Đông cao gần bảy tấc vẫn đứng vững vàng. Đến cuối tháng Mười âm lịch, con nước nổi bắt đầu ròng sát đáy kênh, rút êm trôi dần ra sông Vàm Cỏ Tây.
Nước rút tới đâu, mặt đất phơi ra lớp phù sa non nâu mịn tới đó. Bùn mới bồi đắp quanh chân bờ bao, ken chặt hàng cọc cừ tràm già của anh Cương, phủ trùm lên vỉ tre và rơm rạ xóm giềng đã cùng chèn dằn trong ngày đỉnh lũ. Dưới tầng bùn sâu ba tấc, năm cụm cọc tràm ngầm giữ bồn rễ sen trắng bờ Đông cùng bốn cọc chữ thập giữ dải sen tím bờ Tây vẫn bám chặt lòng đất mẹ. Hai mươi năm qua, dòng nước lũ có thể cuốn trôi ranh đất trên mặt cỏ, nhưng tri thức canh nông bền bỉ của người xưa đã giữ cho mốc giới vẹn nguyên, không xê dịch nửa tấc nào.
Trưa nay, gió hanh se lạnh thổi nhẹ qua mái lá. Minh Đăng ngồi xếp bằng bên bậu cửa chái bếp, nơi dải nắng ấm xiên qua những thanh nứa thưa. Cậu bé quàng chiếc khăn rằn cũ màu cháo lòng của ông nội, hai tay nâng niu cuốn sổ bọc vải dầu đặt trên gối. Cạnh chỗ nó ngồi, thân bọng gỗ ép dầu gia truyền sẫm bóng lớp váng dầu sen qua ba đời kê ngay ngắn bên chiếc bàn con. Từng dòng chữ quốc ngữ pha nét nôm bình dân, từng chấm mực tàu và ký hiệu cánh hoa mà ông nội Hứa Văn Lộc vẽ năm xưa đã in sâu vào tâm trí đứa trẻ chín tuổi, rành rẽ như từng đường chỉ tay trong lòng bàn tay nó.
Đăng ngước mắt nhìn ra ba mẫu hai công ruộng trũng. Khi nước nổi rút đi, cả cánh đồng sen như bừng tỉnh sau giấc ngủ dài ngập trong con nước đỏ. Vạt sen bạt ngàn vươn lên xanh mướt, những phiến lá tròn dạng khiên đón nắng trưa rung rinh theo từng cơn gió thoảng. Phía bờ Đông giáp ruộng chú Tấn, năm cụm sen trắng bản địa trổ bông thẳng tắp, những cánh hoa trắng ngọc bung nở muộn màng trong nắng xế, mép phiến lá lượn sóng mềm mại dập dờn như dải lụa. Mé bờ Tây giáp ruộng ông Phước, dải sen tím sẫm khum nhọn kiêu hãnh vươn cao bên mô đất có bụi trâm bầu còi. Và ở ngay rốn trũng trung tâm, vạt sen vàng hạt gia truyền đang vào độ ngậm hạt đẫy đà nhất.
Những gương sen già ngả sang sắc xanh sẫm thâm kim, nặng trĩu uốn cong cọng sen đầy gai mịn. Từng hạt sen to tròn, lớp vỏ lụa bên trong khi già chuyển sang màu vàng sáp óng ả, đượm nhiều tinh dầu sau những ngày chắt chiu phù sa màu mỡ. Mùi hương sen thanh khiết quyện với mùi ngai ngái của bùn non đáy ruộng, theo làn gió chướng bay xa, len lỏi vào từng chái bếp, hàng ba khắp xóm nhỏ Tân Bình Thạnh.
Từ chái bếp trông ra bờ đê chung, Đăng thấy nhịp sống xóm nhỏ đã êm ả trở lại. Mé sông, chiếc xuồng cui của thím Bảy thong thả bơi về bến, chở đầy cá linh và bông điên điển vàng rực; tiếng mấy đứa con nhỏ cười đùa ríu rít vang cả khúc kênh. Ngoài doi đất mé Đông, chú Tấn cùng anh Cương xắn đất đắp cao thêm gờ ranh nội đồng. Chú Tấn cởi trần, da đỏ au bóng mồ hôi, thỉnh thoảng đưa cánh tay vạm vỡ chỉ luống cày mùa mới rồi cười vang rền. Không còn chiếc xẻng sắt toan phá mốc ranh, không còn lời cãi cọ cay nghiệt hay bóng dáng xuồng máy của lái buôn cá lóc rình rập gom đất. Tình làng nghĩa xóm từng rạn nứt nay hàn gắn bền chặt như con đê đất đắp bằng sự chung lòng của năm nóc gia đình. Bên rặng gáo nước bờ Tây, ông Phước ngồi trên mũi xuồng ba lá, trầm ngâm phả làn khói thuốc rê sâu róm, nét mặt thanh thản như trút bỏ được mối bận lòng suốt hai mươi năm.
Khói lam chiều từ gian bếp phía dưới lượn lờ bay qua kẽ sàn nứa. Mùi cơm gạo mới sôi sùng sục quyện với mùi cá bống kho tiêu và canh chua bông điên điển tỏa ra thơm lừng.
Đăng nhìn đôi bàn tay mình, mấy đầu ngón tay vẫn đượm mùi dầu sen sau buổi tối được bà nội truyền nghề. Nó nhớ lại đầu mùa lũ, khi còn là đứa trẻ rụt rè hay co ro nơi bậu cửa, mang nỗi mặc cảm mồ côi cha mẹ từ năm lên bảy. Đăng từng lén đứng bên bàn thờ nghi ngút khói nhang, tự hỏi liệu bà nội có thực sự cần một đứa cháu nhỏ thó, vụng về như nó. Mỗi lần bà rầy: “Đàn ông con trai mà mở miệng lí nhí như muỗi vo ve”, nó lại mím chặt môi, sợ mình là gánh nặng ăn bám nơi mái nhà tranh.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…