Mũi Dùi Xuyên Đốt Trúc Nghe Hồn Tượng
Chương 18: Tiếng Vọng Thớ Gỗ
Quan Tri huyện dừng bước nơi bực đá tiền tế, ánh mắt sắc sảo đảo quanh sân đình đang hỗn loạn. Đưa mắt nhìn cụ Đạt đứng vững chãi trước đám tuần đinh cùng Bá hộ Chu Văn Khiêm mặt xám ngoét, ngài vung vạt áo thụng xanh, cất giọng uy nghiêm:
— Bản quan phụng mệnh tuần giang kinh lý, ngang bến đò Thọ Am gặp giông bão ghé lại. Cớ sao chốn đình trung lại nổi trống ngũ liên, gậy gộc rợp trời như phường loạn nghịch thế này?
Tiếng quát giáng xuống khiến cả sân đình im phắc. Bọn tuần đinh lấm lét lùi dạt sang hai bên, bỏ mặc thanh roi song rơi chỏng chơ dưới đất. Thầy đồ Đặng Khắc Lượng quỳ rạp dưới thềm đình, hai tay nâng cao tờ đơn kêu oan cùng chiếc tráp bọc lụa điều:
— Bẩm quan lớn đèn trời soi xét! Tiểu sinh là Đặng Khắc Lượng cùng cháu nội cụ trùm họ Vu đội đơn kêu oan cho người thợ trẻ Trần Hữu Sinh thác oan mờ ám, đồng thời xin rửa sạch thanh danh cho cụ trùm trăm tuổi bị kẻ gian vu vạ báng bổ thần linh!
Quan Tri huyện đón lá đơn, lướt nhanh từng dòng đơn trạng. Đọc đến đoạn tượng đền Cây Đa Vàng toát mồ hôi đỏ cùng mối nghi án giấu xác cướp đất bến sông, đôi mày ngài chau lại. Ngài nhìn cụ Đạt, rồi quắc mắt sang Bá hộ Chu:
— Tượng thánh rỉ máu, lòng dân xao động, nay lại có đơn kiện giấu xác cướp đất? Chuyện tày đình bực này, sao Chánh hội đồng hương ẩm giấu giếm không bẩm báo? Tuần đinh đâu! Lập tức sang đền rước ngay tượng Thánh Mẫu về đặt giữa sân đình! Bản quan thụ lý công khai trước bàn dân thiên hạ!
Bá hộ Chu hồn xiêu phách lạc, vội sụp lạy, mồ hôi dầu túa ra bóng nhẫy:
— Bẩm quan lớn! Xin ngài chớ nghe lời xằng bậy! Thằng Sinh cờ bạc nợ trăm đồng bạc xòe nên trốn biệt tích. Năm sào đất bồi ven sông Đáy là nó tự nguyện bán cho tôi trừ nợ, có văn tự điểm chỉ rành rành làm bằng!
Lão vội rút trong bọc áo the tờ giấy bản ố vàng dâng lên. Quan Tri huyện trải văn tự ra bàn. Những nét chữ thảo ngoằn ngoèo tựa rắn bò, phía cuối có vết mực đỏ điểm chỉ ngả màu nham nhở.
Thầy đồ Lượng quỳ thẳng người, dõng dạc tâu:
— Bẩm quan lớn! Kẻ hèn này dạy chữ nơi góc làng, từng nắn nét bút đầu tiên cho Trần Hữu Sinh. Sinh bản tính thật thà, cả đời chỉ viết chữ Chân thư vuông vức, tuyệt đối không biết chữ thảo phóng túng bực này. Hơn nữa, dấu điểm chỉ chu sa kia nét vân đứt đoạn, rõ ràng lấy dấu tay người đã mất tri giác ép vào!
Thầy Lượng mở chiếc tráp lụa điều, nâng cây đục cán sừng trâu đen nhánh:
— Sinh hiểu rõ dã tâm của kẻ gian, trước khi mất tích đã cất khế ước gốc vào chuôi đục gia bảo niêm phong sáp ong. Xin quan thầy minh giám!
Trước sự chứng kiến của quan Tri huyện và dân làng, thầy Lượng rút dao con gọt sạch lớp sáp ong vàng quanh đốc chuôi sừng trâu. Nắp xoay mở ra, cuộn giấy dó nguyên vẹn được rút ra trải cạnh tờ văn tự của Bá hộ Chu. Từng hàng chữ Chân thư mực tàu đen nhánh ghi rõ nguồn gốc đất hương hỏa năm sào bến sông, phía dưới là dấu điểm chỉ chu sa tươi đỏ cùng hình khắc hoa cúc sắc nét độc môn của Trần Hữu Sinh.
Quan Tri huyện đối chiếu hai văn tự, sắc mặt đanh lại:
— Chữ một đằng ngay ngắn đôn hậu, một đằng xiêu vẹo giả tạo. Dấu điểm chỉ một đằng rõ nét hoa tay, một đằng nhòe nhoẹt bôi son. Rõ ràng là văn tự ngụy tạo! Chu Văn Khiêm, ngươi còn chối cãi thế nào?
Bá hộ Chu run bắn, lắp bắp:
— Bẩm… chắc nó thuê người khác viết hộ… Nhưng việc cụ Đạt báng bổ, nửa đêm cầm dùi sắt đâm lưng tượng thánh thì Đội Bính bắt quả tang rành rành!
Đúng lúc ấy, bốn tuần đinh khiêng pho tượng Tam Tòa Thánh Mẫu cao bốn thước mộc đặt lên đôi mễ gỗ lim giữa sân đình. Dưới nắng mai chênh chếch, pho tượng sơn son thếp vàng uy nghi bỗng toát ra luồng khí ẩm lạnh lẽo, tanh tưởi đến lợm giọng.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…