Mũi Dùi Xuyên Đốt Trúc Nghe Hồn Tượng

Chương 2: Dấu Mộng Bất Thường

Mùi tanh tưởi lợm giọng xộc thẳng vào cuống họng khiến cụ Vu Thành Đạt phải khẽ húng hắng ho, lồng ngực gầy guộc phập phồng theo từng nhịp thở ngột ngạt. Bàn tay nổi đầy gân xanh của cụ siết chặt lấy thân gậy trúc già, các mấu đốt vàng óng như ghìm lại cơn ớn lạnh vừa chạy dọc sống lưng. Bên cạnh, Vu Đình Cảnh vội bước lên nửa bước, cánh tay vạm vỡ đỡ lấy khuỷu tay ông nội, hạ giọng thắc thỏm:

— Ông nội, mùi gì mà nồng nặc thế này? Hay là… có con thú nào sẩy chân chết thối dưới gầm hương án?

— Không phải thú chết… — Cụ Đạt lắc đầu, thanh âm trầm đục như nghẹn lại dưới vòm họng. — Mùi mỡ người quyện vào sơn ta sống. Cháu cứ đứng đây, để lão vào xem thực hư.

Dằn từng bước chân thận trọng qua ngạch cửa gỗ lim cao quá đầu gối, cụ Đạt tiến vào gian tiền tế đền Cây Đa Vàng. Khói nhang trầm quyện với ngọn khói đuốc tẩm dầu lạc đặc quánh, bốc lên nghi ngút làm mờ mịt cả không gian thâm nghiêm. Dưới ánh lửa bập bùng, cảnh tượng hiện ra trước mắt khiến lòng cụ trùm già thắt lại.

Ngay giữa gian tiền tế, một chiếc chiếu hoa cạp điều đã được trải rộng. Trên đó bày biện ngổn ngang một mâm cỗ tam sên gồm thịt lợn sống, trứng vịt ung và đĩa gạo muối cắm ba cây hương đỏ rực, xung quanh vung vãi những xấp tiền vàng mã in hình ma quỷ đầu trâu mặt ngựa. Đứng cạnh chiếc án thư gỗ gụ, Bá hộ Chu Văn Khiêm đang chống nạnh, tay kia không ngừng lần chuỗi hạt bồ đề nâu bóng. Gương mặt béo đẫy của ông ta bóng nhẫy mồ hôi, đôi mắt ti hí đảo lia lịa nhìn đám dân làng đang quỳ mọp dưới đất.

— Làng Thọ Am ta mấy đời nay nhờ bóng Thánh Mẫu mà êm ấm! — Giọng Bá hộ Chu the thé, cố tình cất cao để át đi tiếng gió rít ngoài rặng đa. — Nay tượng thánh toát huyết là điềm hung hiểm tột cùng, quỷ dữ dưới đáy sông Đáy trồi lên đòi quấy nhiễu xóm làng. Muốn yên ổn, mỗi suất đinh bắt buộc phải nộp đủ ba hào bạc để lập đàn tam vị trừ tà, sắm lễ tạ tội thần linh. Đứa nào tiếc tiền trốn tránh, tai bay vạ gió giáng xuống đầu ráng mà chịu!

Đám tuần đinh áo nẹp đỏ lăm lăm tay thước, tay gậy đứng vây tròn quanh tiền tế. Dưới sàn gạch nghiêng, hàng chục người dân nghèo run như cầy sấy. Những người đàn bà ôm chặt con nhỏ vào lòng, vừa dập đầu sì sụp vừa run rẩy móc từng đồng kẽm, hào bạc cất kỹ nơi cạp váy để nộp vào chiếc mâm đồng đặt trên bàn.

Cụ Đạt đứng lặng bên cột cái, chòm râu bạc như cước khẽ rung lên. Lão hiểu quá rõ thói tham tàn của Bá hộ Chu. Mượn chuyện ma quỷ dị đoan để vơ vét đồng tiền bát gạo của lũ dân đen khốn khó vốn là ngón nghề quen thuộc của phường hào lý, nhưng đem sự tôn nghiêm nơi thờ tự ra làm trò bịp bợm thế này thì quả là táng tận lương tâm.

Nhân lúc đám đông xôn xao dập đầu khấn vái theo hiệu lệnh của tuần đinh, còn Bá hộ Chu thì mải mê nhìn từng vốc tiền đồng rơi lách cách vào mâm, cụ Đạt khẽ ra hiệu cho Cảnh đứng lại canh chừng. Một mình cụ lẳng lặng chống gậy, nép sau bóng cây cột lim to hai người ôm, lách qua bức rèm điều đã phai màu dẫn thẳng vào gian hậu cung.

Nơi đây ánh đuốc ngoài sân không rọi tới được, chỉ có duy nhất một ngọn đèn hoa kỳ leo lét đặt nơi góc hương án, hắt lên những vệt sáng nhờ nhờ lạnh lẽo. Pho tượng Tam Tòa Thánh Mẫu cao đúng bốn thước mộc sừng sững ngự trên tòa sen sơn then thếp vàng rực rỡ. Dưới bàn tay chạm trổ khéo léo, diện mạo tượng vốn dĩ từ bi, phúc hậu, nhưng trong màn đêm u tịch này lại toát ra luồng tử khí u ám, lạnh toát như từ đáy mồ sâu phả lên.

Cụ Đạt nín thở, cất bước thật khẽ tiến sát bệ thờ. Đôi tai cực thính của người thợ già trăm tuổi bỗng bắt được một âm thanh kỳ dị. Đó không phải tiếng gió lùa qua khe liếp, mà là một tiếng rít rất khẽ, ngắt quãng nghẹn ứ, như luồng khí lạnh đang chật vật tìm lối thoát qua những thớ gỗ dày.

Cụ lách người vòng ra phía sau lưng tượng. Là người nắm giữ mọi bí truyền khang tượng của đất Thọ Am, cụ Đạt biết rõ bất kỳ pho tượng gỗ mít cỡ lớn nào cũng phải đục rỗng phần lưng để giảm sức nặng, chống nứt xé thớ gỗ và đặt ống bương trúc yểm tâm. Khoang rỗng ấy sau khi hoàn thiện sẽ được đậy kín bằng một tấm nắp gỗ vừa khít, ghép nối bằng mộng mang cá tinh xảo, khít khao đến mức một sợi tóc cũng không thể lọt qua.

Thế nhưng, khi bưng ngọn đèn dầu soi sát vào thớ gỗ lưng tượng, tim cụ Đạt bỗng thắt lại.

Đường mộng mang cá giấu sau nếp áo tượng nham nhở đến gai mắt. Mạch ghép không hề ăn khớp, các góc ngậm bị đục xước toe toét như thể bị dùng vồ nện ép vào một cách thô bạo. Tệ hại hơn, người thợ nào đó đã dùng keo da trâu nấu chưa chín, trộn bừa bãi với mùn cưa sống của gỗ tạp để trét bít lên khe hở, rồi quét đè lên một lớp sơn then vội vã. Lớp keo trộn mùn cưa ấy đang bị hơi ẩm bên trong đẩy bung ra, phồng rộp lên từng mảng sùi sụt như một vết sẹo mưng mủ.

“Đại kỵ của nghề mộc!” — Cụ Đạt rúng động trong dạ. Ghép mộng khang tượng mà dùng keo da trâu trét ẩu đả thế này chỉ có hai lẽ: hoặc kẻ đục tượng không hiểu một chút quy tắc nghề, hoặc người ta đang vội vàng giấu giếm một thứ gì đó quá khổ bên trong ruột rỗng, đến mức không kịp gọt giũa nắp mộng cho vừa khít!

— Kìa, cụ trùm Đạt ngắm nghía gì mà say mê thế?

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Hát Long
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Hát Long

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…