Mũi Dùi Xuyên Đốt Trúc Nghe Hồn Tượng
Chương 3: Người Thợ Mất Tích
Chất dịch đỏ thẫm quánh đặc nằm lạnh ngắt trên mu bàn tay cụ Vu Thành Đạt. Mùi tanh tưởi ngầy ngậy của mỡ ôi quyện lẫn mùi nhựa mít sống bốc lên xộc thẳng vào sống mũi. Giữa bóng tối thâm u của gian hậu cung, vệt đỏ nơi nếp áo sau lưng pho tượng Thánh Mẫu vẫn trĩu xuống, chực nhỏ thêm một giọt nữa.
Cụ Đạt nén một tiếng thở dài buốt nghẹn, rút chiếc khăn vải thô giắt nơi thắt lưng khẽ lau sạch vệt chất lỏng trên tay. Ngoài tiền tế, tiếng mõ gõ giục giã lẫn tiếng quát tháo hách dịch của tuần đinh đòi tiền trừ tà vẫn lộn xộn vang lên từng hồi. Cụ không nán lại thêm. Bằng đôi chân đã qua một thế kỷ dạn dày sương gió, cụ chống cây gậy trúc già, từng bước điềm tĩnh lách qua bức rèm điều, bước ra ngoài sân đền Cây Đa Vàng.
Vu Đình Cảnh đang đứng thấp thỏm dưới gốc đa cổ thụ, thấy ông nội bước ra liền vội vàng bước tới đỡ lấy cánh tay gầy guộc:
— Ông nội! Trong hậu cung thế nào rồi ạ? Quan bá cứ lăm lăm dòm ngó, cháu lo gã lại sinh sự với ông.
Cụ Đạt vỗ nhẹ lên mu bàn tay rám nắng của người cháu nội, khẽ lắc đầu:
— Về xưởng rồi hẵng nói. Chốn này uế tạp lắm rồi.
Hai ông cháu lặng lẽ rảo bước theo con đường đất ven đê sông Đáy. Gió thu thổi ràn rạt qua những bãi dâu, mang theo hơi nước ngai ngái lạnh buốt. Gian xưởng mộc ba gian của họ Vu hiện ra dưới ánh trăng mờ, nồng đượm mùi phoi bào và hương thơm thanh khiết của mạt cưa gỗ mít già quen thuộc.
Vào đến gian giữa, Cảnh vội châm ngọn đèn dầu lạc đặt lên chiếc bàn lim sẫm màu, rồi rót một bát nước vối ấm dâng lên ông nội. Cụ Đạt ngồi xuống chiếc ghế trường kỷ quen thuộc, nhấp một ngụm nước ấm cho dịu đi vị đắng ngắt nơi cuống họng. Đôi mắt đục màu sương khói của cụ hướng về những súc gỗ mít vàng óng xếp ngay ngắn bên góc xưởng.
Cả một đời cầm đục cầm chàng, trải qua trăm năm ròng rã, cụ Đạt thuộc lòng từng đường gân thớ thịt của gỗ mít. Thớ mít già ngấu sơn bền bỉ, tích tụ dương khí thanh tịnh, xưa nay phường thợ Thọ Am chỉ dùng để tạc tượng thần Phật. Với những pho đại tượng cao tới bốn thước mộc như tượng Thánh Mẫu ngoài đền Cây Đa Vàng, kỹ thuật cổ truyền bắt buộc người thợ phải đục rỗng khoang lưng — gọi là “khang tượng”. Việc ấy vừa giúp giảm bớt sức nặng của khối gỗ, tránh cho thân tượng bị nứt xé thớ khi thời tiết đổi mùa, vừa là nơi để đặt ống bương trúc yểm tâm.
Ống bương trúc khô nhiều đốt đục rỗng ruột ấy chính là tim tượng, bên trong cất giữ thất bảo, gương soi và kinh văn tẩy trần. Xưa kia, cụ tổ họ Vu từng răn dạy, các mấu mắt trúc nơi vạt áo sau lưng tượng phải được chừa những khe hở vi tế để pho tượng “thở”, giúp luồng khí ẩm âm dương lưu thông điều hòa qua hàng trăm năm. Nhưng ruột tượng là chốn tôn nghiêm tột cùng, tuyệt đối cấm kỵ để vấy bẩn uế tạp. Nếu có máu huyết hay oán hận bị giam hãm bên trong, hơi ẩm ứ đọng sẽ làm lớp nhựa mít sống phân rã, hòa cùng mỡ mục rữa rồi đội bung lớp mộng mà trào ra thành những giọt mồ hôi đỏ tanh nồng...
Nghĩ đến đường mộng mang cá vỡ nát bị trét bừa bãi keo da trâu sống trộn mùn cưa tạp sau lưng tượng, cụ Đạt khẽ siết chặt bát nước trong tay. Cụ ngước mắt nhìn cháu nội, trầm giọng hỏi:
— Cảnh này, pho tượng Thánh Mẫu cao bốn thước ngoài đền, quan bá rốt cuộc đã thuê phường thợ nào đục vậy cháu?
Cảnh khẽ giật mình, ngập ngừng một lát rồi hạ thấp giọng đáp:
— Dạ thưa ông, hôm khánh thành tượng, Bá hộ Chu khoe mẽ khắp làng là cất công mời thợ giỏi tận kinh kỳ về làm ròng rã mấy tháng trời. Nhưng thực chất... cháu nghe mấy anh em bạn thợ trong làng kháo nhau, người nhận mối việc ấy ban đầu không phải thợ kinh kỳ nào cả.
— Chứ là ai? — Ánh mắt cụ Đạt lóe lên tia sắc lạnh.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…