Mũi Dùi Xuyên Đốt Trúc Nghe Hồn Tượng

Chương 4: Bảo Bối Ba Đời

Màn đêm bến sông Đáy đen kịt như mực tàu, tiếng sóng vỗ ì oạp vào doi đất bồi nghe nặng trĩu tựa tiếng thở dài của kẻ thác oan. Cụ Vu Thành Đạt ngồi lặng phắc bên chiếc bàn gỗ lim, đôi mắt đục mờ sương khói nhìn trừng trừng vào ngọn đèn dầu lạc leo lét. Giọt dịch đỏ sẫm tanh lợm mùi mỡ ôi trên mu bàn tay cụ tuy đã lau sạch từ lúc rời đền Cây Đa Vàng, nhưng cảm giác nhờn lạnh ghê rợn dường như vẫn thấm sâu vào từng đường gân thớ thịt.

Thấy cháu nội đứng bần thần bên hiên nhìn ra dòng nước tối thẫm, cụ Đạt khẽ cất lời:

— Đóng then cài cửa lại đi, Cảnh. Vặn nhỏ bấc đèn xuống.

Giọng cụ Đạt trầm đục như tiếng búa gỗ nện vào lõi mít già. Vu Đình Cảnh giật mình quay vào, vội khép chặt hai cánh liếp nứa rồi gài then gỗ chắc chắn. Gian xưởng mộc gia truyền nồng mùi mạt cưa, phoi bào và hương gỗ mít ngai ngái chìm vào thứ ánh sáng vàng vọt tù mù.

Cụ Đạt chống cây gậy trúc già, vịn mép bàn chậm rãi đứng dậy. Dẫu lưng còng theo năm tháng, bước chân của cụ già trăm tuổi vẫn vững chãi. Cụ lẹp kẹp đi về phía góc tối gian trong, nơi đặt bàn thờ tổ nghề mộc họ Vu khói hương bảng lảng. Kê sát vách đất nứt nẻ là chiếc hòm gỗ lim cẩn mật, nước gỗ đã lên màu mun đen nhánh qua ba đời mưa nắng.

Cụ thò tay vào túi áo cánh chẽn, rút chiếc chìa khóa đồng thau mòn nhẵn.

Cạch… két…

Tiếng then sắt han gỉ rít lên khô khốc xé toạc màn đêm tịch mịch. Cụ Đạt nhẹ nhàng đẩy nắp hòm lim. Làn hương thơm dịu ngọt của bột trầm hòa cùng mùi sáp ong bảo dưỡng đồ mộc ngót trăm năm thoảng ra, xua bớt hơi lạnh ngoài sông.

Bên trong hòm lót tấm dạ đỏ đã ngả màu ố úa. Giữa những chiếc bào trắc tinh xảo và bộ đục hoa văn gia bảo, cụ Đạt run run nâng lên bọc vải thô điều. Đôi bàn tay gân guốc chằng chịt vết sẹo nghề khẽ lay động khi gỡ từng lớp bọc.

Dưới ánh đèn dầu chập chờn, một vật bằng kim khí dần lộ diện.

Đó là chiếc dùi thép gia truyền dài đúng thước hai. Chuôi dùi tiện bằng gỗ mun đen nhánh, đầu chuôi bịt khoen đồng mắt cua khắc hình hoa cúc dây thanh nhã. Thân dùi thẳng tắp, rèn từ thứ thép tôi nước lợ cổ truyền, ánh lên sắc xanh biếc lạnh lẽo đến gai người. Điểm kỳ lạ nhất chính là chạy dọc suốt thân mũi thép có một đường rãnh máng rỗng tâm sâu hoắm, thông suốt từ mũi nhọn sắc lẹm đến tận đốc chuôi mun.

Cảnh trố mắt nhìn, buột miệng hỏi:

— Thưa ông nội, đây là... chiếc dùi mộc của cụ tổ để lại đấy ư?

Cụ Đạt gật đầu, ngón tay gầy guộc miết nhẹ theo đường rãnh máng của mũi thép:

— Phải, đây là bảo bối ba đời của họ Vu ta. Đời ông sơ chú mày truyền lại cho ông nội, dặn rằng chỉ khi gặp biến cố sinh tử của nghiệp thợ mới được mang ra dùng. Chiếc dùi rãnh máng này chuyên dùng thăm dò những cây đại thụ ngàn năm trước khi hạ đục tạc tượng thánh. Thân thép dài thước hai đủ sức khoan thấu tim gỗ sâu thẳm mà không tổn hại thớ thịt xung quanh. Kỳ diệu nhất là rãnh máng rỗng ruột này... Khi ghé tai vào chuôi dùi, người thợ có thể nghe rõ mồn một tiếng thở của thớ gỗ, nghe tiếng dội của nhựa sống, biết được bên trong ruột cây lành hay dữ, đặc hay rỗng, ngậm nước hay đã nứt xé tâm can.

Nói đoạn, cụ Đạt hướng đôi mắt u uẩn nhìn về phía pho tượng ngoài ngôi đền xa xa, giọng chùng xuống nghẹn ngào:

— Ban nãy nơi hậu cung đền Cây Đa Vàng, lão già này đã ngửi thấy mùi tử khí. Thằng Sinh... đứa học trò khốn khổ của ta, chín phần mười đã bị lũ lang sói sát hại rồi nhét xác vào ruột tượng mít!

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Hát Long
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Hát Long

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…