Mũi Dùi Xuyên Đốt Trúc Nghe Hồn Tượng

Chương 7: Bến Sông Dậy Sóng

Cụ Vu Thành Đạt cẩn thận bọc mẩu dăm gỗ mun tiện dở vào mảnh vải đỏ, cất kỹ vào túi trong của chiếc áo cánh lụa đũi. Cụ khẽ đưa tay áo quệt ngang khóe mi sâu hoắm, siết lấy bàn tay run rẩy của cụ bà Then:

— Ơn bà đã giữ giùm mẩu gỗ này. Chuyện cỗ xe chở tượng trong đêm cùng mẩu dăm mun, bà tuyệt đối chớ hé răng nửa lời. Lũ lòng lang dạ thú ấy một khi đánh hơi được sẽ chẳng dung tha cho bà đâu.

Bà Then run run gật đầu:

— Già này xin cắn răng giữ kín như bưng, đội ơn cụ trùm đã nhắc nhở!

Rời am cỏ sau đền Cây Đa Vàng, cụ Đạt chống chiếc gậy trúc rảo bước ra phía bờ sông. Nắng sớm mùa thu chiếu nghiêng qua rặng tre, rọi bóng dáng quắc thước của cụ già trăm tuổi in dài trên nền đất phù sa. Trong lồng ngực gầy guộc, trái tim cụ đập từng nhịp nhức nhối. Mẩu dăm gỗ mun chạm hoa cúc như ngọn lửa thiêu đốt tâm can. Đứa học trò mồ côi hiền lành từng quỳ dưới chân cụ học từng nhát đục vỡ hạt thuở nào, quả nhiên đã vướng vào đại nạn khôn cùng.

Gió sông Đáy thốc lên mang theo vị ngai ngái của bùn non và mùi sậy mục. Bãi đất bồi rộng năm sào vốn là cơ nghiệp hương hỏa duy nhất mà cha mẹ Trần Hữu Sinh để lại bên tả ngạn. Ngày trước, mỗi bận qua đây, cụ Đạt vẫn nghe tiếng cưa xẻ rộn rã bên đống súc mít vàng ươm đợi ngày ngấu nắng. Thế nhưng nay, cảnh tượng trước mắt cụ chỉ còn là sự hoang tàn, u uất.

Cả khu đất năm sào đã bị người nhà Bá hộ Chu cắm cọc tre vót nhọn, rào kín bằng giậu gai mắt cáo ken dày. Sát mép nước, một chiếc lán gỗ lợp lá gồi mọc lên sừng sững, nóc cắm cờ đuôi nheo ngũ sắc phần phật trong gió. Trước lán trại treo tấm biển sơn son thếp vàng bóng lộn đề bốn chữ Nho: “Chu Thị Tân Cảng”. Hàng chục cọc lim to bằng bắp đùi đóng sâu xuống mép nước, chia dòng chảy bến đò thành luồng lạch riêng để đón các bè gỗ từ mạn ngược xuôi về đổ bến độc quyền. Từ trong lán vọng ra tiếng cười cợt the thé lẫn tiếng lách cách của canh bạc tổ tôm thâu đêm suốt sáng.

Vừa thấy bóng cụ già trăm tuổi bước lại gần rào tre, hai gã thanh niên vạm vỡ giắt dao quắm bên hông liền từ trong lán hùng hổ xông ra. Gã đi đầu lăm lăm đoạn gậy tre vót nhọn, hất hàm quát tháo hách dịch:

— Lão già kia! Mắt mũi để đâu mà lú lẫn lần mò đến tận chốn này? Không thấy cọc rào biển cấm của quan Bá hộ Chu làng ta đấy à? Cút ngay kẻo gãy gậy bây giờ!

Gã thứ hai có vết sẹo dài nơi khóe mép cũng trợn trừng mắt phụ họa:

— Chỗ này quan Bá nhà tao đã mua đứt văn tự trọn vẹn năm sào đất, sắp khai trương bến bè độc quyền của cả tổng. Dân làng không phận sự cấm bén mảng!

Đối diện với sự hung hãn của hai tên tay sai, cụ Đạt vẫn đứng sừng sững như thân tùng cổ thụ. Đôi mắt đục màu sương khói của cụ không hề chớp, ánh lên nét uy nghiêm thâm trầm khiến ngọn gió sông thổi qua cũng như chùng xuống. Cụ khẽ giộng nhẹ đầu gậy trúc xuống nền đất cát bồi.

Cộp!

Tiếng vang đanh gọn giữa bãi sông vắng lặng. Cụ Đạt chầm chậm vuốt chòm râu cước buông dài quá ngực, cất giọng sang sảng:

— Hai chú mày còn trẻ người non dạ, chớ vội mở mồm nói càn! Lão già này sống ở đất Thọ Am hơn một trăm năm nay, từ thuở ông nội thằng Chu Văn Khiêm còn cởi truồng đi mót khoai bãi sông, chứ chưa đến lượt lũ sai vặt chúng mày dạy đời lão!

Hai gã tay sai giật nảy mình trước khí thế quắc thước của ông cụ trăm tuổi. Ở đất Thọ Am này, từ bậc tiên chỉ, lý trưởng cho tới quan huyện mỗi lần về làng đều phải nghiêng mình chào cụ trùm phường thợ. Danh thế của vị đại lão từng được khắc tên trên thượng lương đình cổ chẳng phải thứ mà phường tôi tớ dám tùy tiện đụng vào.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Hát Long
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Hát Long

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…