Mũi Kìm Bấm Khuy Đồng Khép Lại Tranh Chấp Trịnh Phủ
Chương 8: Nhịp búa trao truyền
Gió đêm lùa qua chấn song xưởng rèn Trịnh Phủ mang theo hơi nước ngai ngái của sông Thương. Uông Nhược Mai đứng bên bệ đá, hai bàn tay thon mảnh nổi rõ vết chai nơi ngón trỏ và ngón cái khẽ siết chặt chiếc kẹp sắt. Nàng đăm đăm nhìn ra lối ngõ sau mịt mùng sương muối, lòng nóng như lửa đốt khi Trọng Quân chưa trở về.
Tiếng bước chân gấp gáp đạp trên lớp sỏi ẩm báo hiệu người về. Cánh cửa gỗ lim khép hờ bật mở, Trọng Quân lách mình vào trong, vạt áo tơi còn bê bết bùn non nơi đầm lầy. Chàng thở dốc, nhưng ánh mắt sáng ngời vẻ kiên nghị. Chàng tiến thẳng đến trước chiếc bàn thợ, đặt lên mặt gỗ một vật còn vương chút bùn đã khô:
“Cố sơ! Cha! Nhược Mai muội muội! Chút đã tìm ra lò lậu đúc khuy pha chì thiếc ngoài bãi sậy. Đây là vật tên quản sự kinh kỳ đánh rơi nơi mép lạch.”
Nhược Mai cúi xuống, nheo mắt nhìn tấm thẻ bài gỗ thị hình dải quạt có viền đồng thau sáng bóng. Ba chữ thếp son đỏ thắm hiện lên đập vào mắt nàng: Giáp Diên Khánh. Nàng khẽ rùng mình, nhớ lại chiếc khăn lụa mỡ gà mà Trịnh Kính Thao lén giấu trong tay áo lúc chiều. Mọi manh mối đã khớp lại rõ ràng như từng mắt xích.
Trịnh Văn Bách đứng cạnh đó, sắc mặt tái nhợt, đôi môi run run:
“Thương thuyền họ Giáp quả nhiên muốn dồn Trịnh gia vào đường cùng…”
Cụ Uông Thạc Hiền khẽ nâng chiếc thẻ bài lên, ngón tay điểm đồi mồi miết nhẹ trên nét khắc son rồi đặt xuống mặt bàn gỗ mun một cách bình thản. Giọng cụ trầm ấm xua tan nỗi hoang mang đang bao trùm gian phòng:
“Kẻ ngoài dòm ngó cơ nghiệp là lẽ thường ở đời, nhưng nẹp áo mình có chắc thì giông gió mới không lật nổi vạt. Quân nhi tìm được gốc tích lò lậu là điều tốt, song việc cấp bách trước mắt trong bảy ngày gia hạn là phải nẹp lại cho kỳ xong chín chiếc khuy Phượng Hạc trên áo cống hoàng yến. Tà áo dâng kinh không thể mang một vết tì, tấm lòng dâng họ Trịnh và họ Uông cũng chẳng thể để lẫn tạp xỉ.”
Cụ quay sang Nhược Mai, ánh mắt bao dung tựa vầng trăng rọi giếng cổ:
“Mai nhi, dọn than củi gỗ nghiến. Đêm nay, lão già này sẽ cùng các con nhóm lại ngọn lửa lò rèn.”
Nhược Mai dạ ran, lòng nàng trào dâng niềm xúc động khôn tả. Đã nhiều năm cụ sơ tổ lui về am trúc tĩnh dưỡng, nay vì cơn nguy biến của hai họ mà người lại đứng trước lò rèn. Nàng nhanh nhẹn gắp những thỏi than nghiến chắc nịch xếp vào lòng lò đất nung hình bán nguyệt, rải thêm một lớp vỏ trấu khô giòn bên dưới để dẫn lửa.
Khi ngọn lửa bén đỏ rực, cụ Uông Thạc Hiền bước đến bên cạnh, khẽ xua tay ra hiệu cho Trọng Quân kéo cần bễ gió thật đều nhịp. Tiếng bễ da trâu thở phì phò trầm đục, thổi bùng lên ngọn lửa hồng rực rỡ, xua tan cái lạnh lẽo thấu xương của đêm thu.
Cụ gắp một thỏi đồng đỏ nguyên chất đặt vào tâm lò, rồi bảo Nhược Mai:
“Mai nhi, con nhìn ngọn lửa kia. Người thợ non tay thường nhìn màu lửa đỏ hay vàng mà đoán độ nung, nhưng mắt thường dễ bị khói lò đánh lừa. Lửa nung đồng muốn đạt đến độ chín muồi thì phải dùng mu bàn tay đón lấy luồng nhiệt bốc lên.”
Nói đoạn, cụ nắm lấy bàn tay mảnh khảnh của Nhược Mai, dẫn mu bàn tay nàng lướt ngang phía trên miệng lò, cách chừng một thước. Hơi nóng cuồn cuộn phả lên da thịt khiến Nhược Mai thoáng giật mình, nhưng bàn tay gầy guộc của cụ sơ tổ vẫn giữ chặt lấy tay nàng, vững vàng và ấm áp lạ kỳ.
“Thấy chưa con? Khi mu bàn tay cảm nhận luồng khí nóng ran mà không rát bỏng, đó là lúc đồng bắt đầu mềm như dải bột. Đừng vội nhúng nước lã như đúc dao rựa thông thường, đồng non gặp lạnh đột ngột sẽ giòn xốp. Ta phải ủ phôi nóng vào đống tro trấu mịn đã sàng kỹ.”
Cụ Uông buông tay nàng ra, với lấy chiếc kẹp sắt gắp thỏi đồng đỏ rực đang ánh lên sắc hồng cam thuần khiết ra khỏi lò than, vùi sâu vào ang tro trấu để sẵn bên mé đe. Tiếng trấu bén nhiệt cháy lép bép thoang thoảng mùi hương đồng nội mộc mạc.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…