Mũi Kim Khâu Thảm Bện Lại Giềng Mối
Chương 15: Dựng Khung Cửi Đại Đình Làng
Tiếng con thoi gỗ rơi khô khốc trên nền đất nện kéo Kha Trọng Huyên giật mình quay lại. Bác Cả Luân đứng chết lặng nơi bậu cửa, đôi bàn tay sần sùi buông thõng, khóe mắt hằn sâu những tia máu đỏ quạch vì nhiều đêm trằn trọc. Người thợ già nhìn chiếc khung cửi bốn thước khiêm nhường trong góc buồng, rồi lại ngước nhìn xà nhà nứa trĩu thấp, giọng run rẩy như sắp hụt hơi:
— Gian chái này chật hẹp quá, xà nhà lại thấp chỉ vừa quá đầu người. Thảm lót kho dài một trượng chia ra dệt từng manh còn tạm căng cửi được, chứ tấm đại thảm địa đồ ba trượng, rộng trượng hai… thì giăng sợi ở đâu hở Huyên? Chẳng lẽ ta bó tay trước việc quân cơ?
Huyên cúi xuống nhặt con thoi gỗ trao lại vào tay bác Cả, bàn tay thiếu niên rắn rỏi siết nhẹ mu bàn tay run rẩy của người thợ cả:
— Bác chớ hoang mang. Cửi nhỏ không giăng nổi thảm lớn, nhà chật không chứa được chí lớn, thì ta tìm nơi khoáng đạt mà dựng cửi. Gian chái này không đủ chỗ, nhưng xóm Lạc Khâu ta còn có mái đình làng. Dưới bóng đa cổ thụ, sân đình rộng rãi, nền gạch bằng phẳng, che chắn đủ gió sương hàn khí, chính là nơi thích hợp nhất để dựng cửi đại.
Nghe Huyên nhắc đến sân đình, đôi mắt bác Cả Luân chợt bừng sáng, rồi người thợ già như sực nhớ ra điều gì trọng đại, vội vã vỗ mạnh vào bắp đùi:
— Phải rồi! Đình làng rộng thênh thang! Trong xưởng dệt cũ của phường thợ ba đời trước còn cất giấu hai thân gỗ lim xanh do cha ông truyền lại, vốn dành để đại tu cửi cái khi có việc lớn của trấn. Để bác sang thưa với các bậc cao niên trong xóm xin dỡ gỗ ra ngay!
Nửa khắc sau, sân đình Lạc Khâu bỗng rộn rã bước chân. Nghe tin dựng cửi dệt thảm cứu xóm và làm việc quân cơ, các bô lão cùng trai tráng ba mươi hai nóc nhà chẳng ai bảo ai, lập tức kéo đến trước cửa xưởng dệt cũ. Dưới sự đồng thuận của các cụ cao niên, cánh thợ khiêng ra hai thân gỗ lim đen nhánh, thớ gỗ đanh chắc như đá tảng, dài hơn trượng rưỡi, đặt ngay ngắn giữa sân đình.
Huyên xắn cao tay áo chàm, rút chiếc thước tầm bằng tre già giắt bên thắt lưng, tiến lại bên thân gỗ. Dưới ánh mắt dõi theo đầy tin cậy của xóm thợ, ngón tay hắn miết dọc theo từng thớ lim, cẩn thận đo đạc chiều cao, độ cong và điểm đặt lực. Khung cửi thường chỉ cần hai trụ đứng đơn giản, nhưng để chịu được sức căng của hàng ngàn tao sợi kinh đôi cùng trọng lượng nặng trịch của tấm thảm dài ba trượng khi cuộn lại, kết cấu cửi đại bắt buộc phải có ngàm khóa chịu lực và đòn bẩy trợ lực.
Huyên nhặt một mẩu than củi, thoăn thoắt vạch lên mặt gỗ lim những đường mực vuông vắn, dõng dạc nói với cánh thợ mộc trong làng:
— Hai trụ đứng phải đục mộng kép sâu năm tấc, đế cắm vào hai tảng đá kê chân cột đình để chống lún. Riêng trục cuốn sợi trên và dưới, ta dùng thân gỗ nghiến tròn trịa, xẻ rãnh lòng máng dọc theo suốt thân rồi lồng nẹp sắt ngàm chặt đầu tao sợi. Ở hai đầu trục cuốn, bác Cả cho đục bốn lỗ chốt đòn bẩy hình bánh xe nước, vừa vặn để tra then gỗ nén căng sợi mà không tốn sức người.
Từng lời chỉ dẫn rành rọt, thấu đáo của Huyên khiến cánh thợ già trong xóm không ngớt gật đầu thán phục. Tiếng đục đẽo, tiếng cưa xẻ vang lên chan chát khắp khoảng sân gạch rêu phong. Bác Cả Luân cầm búa trực tiếp ghè từng mộng gỗ, Mộc Miên cùng phụ nữ quét dọn sạch sẽ rơm rác, đem những nong tro trấu xoa lên mặt đá kê chân cột để chống trơn trượt.
Giữa lúc xóm thợ đang dốc sức kéo các tao gỗ vào mộng, nơi cổng đình bỗng vang lên tiếng gõ gậy trúc lộc cộc. Cụ Bùi Thông quấn chiếc khăn chàm che kín trán, bước đi chậm rãi nhưng khoan thai tiến vào sân. Nhìn hai trụ lim sừng sững cao hơn trượng rưỡi cùng trục cuốn gỗ nghiến bóng loáng vừa lắp xong, cụ dừng chân, ngẩng nhìn vòm trời biên viễn rồi chống gậy cất giọng.
Đó là điệu hát bách nghệ cổ truyền của phường thợ thảm ngàn xưa, giọng cụ già run run nhưng trầm ấm, sang sảng vang vọng qua từng mái ngói cổ:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…