Mũi Kim Khâu Thảm Bện Lại Giềng Mối
Chương 21: Vượt Ải Nha Môn
Lời chú Thao cụt chân vừa dứt, không khí trong gian chái nhỏ bỗng chốc đông cứng lại như gặp luồng gió buốt từ đỉnh núi tràn về. Chiếc bát chè tươi trên tay bác Cả Luân khẽ nghiêng, rớt vài giọt vàng sẫm xuống mặt phản nứa. Đôi mắt người thợ già đùng đục nỗi kinh hoàng, khóe môi giật giật:
— Thảm dệt chỉ vàng kim tuyến… Lão Tiền đút lót cửa sau với phó quan rồi! Huyên ơi, quan nha một khi đã ăn bạc ngậm ngọc của lũ gian thương thì công lý ở đâu ra nữa hả con?
Mộc Miên siết chặt vạt áo chàm, ngực phập phồng lo lắng nhìn sang Huyên. Trái ngược với nỗi bàng hoàng của mọi người, Kha Trọng Huyên vẫn ngồi thẳng lưng, nét mặt tĩnh tại như mặt nước giếng làng không một gợn sóng. Hắn khẽ đặt con suốt gỗ xuống chiếu, cất giọng trầm ấm, rành rẽ từng lời:
— Chú Thao bớt thở dốc, uống ngụm nước ấm đã. Việc họ Tiền lén lút dâng thảm kim tuyến trong đêm trừ tịch, chẳng qua chỉ chứng minh một điều: chúng đang sợ hãi đến phát cuồng.
Huyên nhìn thẳng vào mắt bác Cả Luân, ánh mắt thâm trầm đầy vẻ từng trải:
— Thảm thêu kim sa, chỉ vàng lấp lánh vốn dùng để trải chốn lầu son gác tía, ủ ấp gót chân khuê các phòng the. Còn việc quân cơ biên ải, thứ quan Kinh Lược sứ và tướng sĩ Trấn Nam Doanh cần là thảm dệt đanh dày, ngâm nước suối không bở mục, hứng tàn lửa không bén cháy, chống ẩm mốc qua ba mùa sương giá để giữ vẹn tròn từng hạt thóc và rương hỏa dược. Chỉ vàng bóng bẩy mà ruột sợi tẩm phèn khoáng độc hại thì chỉ qua một trận nước ẩm là mủn nát thành bùn. Bách nghệ chân chính cốt ở cái ruột bền chắc chứ đâu phải lớp vỏ hào nhoáng gạt người.
Lời phân tích thấu đáo, đĩnh đạc của Huyên như luồng than hồng thổi bùng lại niềm tin trong lòng mọi người. Bác Cả Luân hít một hơi sâu, đôi vai gầy chùng xuống rồi lại vươn thẳng. Người thợ cả năm mươi hai tuổi lẳng lặng bước lại góc buồng, mở nắp chiếc rương mây cũ kỹ. Bác lấy ra tấm thẻ bài bằng đồng thau dính phèn khoáng khắc ba chữ “Vạn Hưng Đường” nhặt được nơi lán nhuộm, cùng cuộn sợi len thô nhuộm vỏ cây vang đỏ thẫm gia truyền ba đời. Bác cẩn trọng gói hai vật vào mảnh lụa điều, nhét sâu xuống đáy chiếc tay nải vải chàm đeo chặt bên sườn:
— Cháu nói chí phải! Cả đời tao đập thoi dệt cửi, chưa từng thẹn với trời đất. Ngày mai dù có núi đao biển lửa, tao cũng quyết cùng cháu đòi lại phẩm giá cho người thợ Lạc Khâu!
Canh năm sáng ngày mùng một tháng Giêng, trời đất chuyển mình sang tiết Lập Xuân. Một làn gió đông ấm áp lướt qua mặt nước sông Lạc, xua tan màn sương muối đặc quánh.
Tiếng tù và bằng sừng trâu của trai tráng bản Mây rúc lên giòn giã đầu ngõ. Dưới bóng đa cổ thụ nơi sân đình, sáu thanh niên vạm vỡ người Tày do cụ Ma Văn Páo cắt cử sang, cùng mười trai tráng khỏe mạnh nhất của ba mươi hai nóc nhà Lạc Khâu đã tề tựu đông đủ. Chiếc hòm gỗ nghiến then cài chứa tấm Đại thảm địa đồ biên ải bọc kín ba lớp vải dầu chống thấm được đặt lên giàn đòn khiêng bằng tre đực dẻo dai. Phía sau, sáu mươi tấm thảm len thô lót kho đợt hai xếp thành từng kiện vuông vức, nẹp chặt trên các đôi bồ gánh kiên cố.
Huyên vận bộ áo vải thô màu nâu sồng gọn gàng, tay cầm đòn dẫn đường. Toàn thể xóm thợ, từ cụ Bùi Thông chống gậy trúc đến các bà mẹ bế con thơ, đều đứng dọc triền đê tiễn đoàn. Đoàn người rầm rộ xuống bến đò ngang vượt sông Lạc, nhắm hướng ba mươi dặm đường rừng tiến thẳng về nha môn trấn phủ. Tiếng bước chân rộn rã nện trên đường sỏi đá như nhịp trống thúc giục lòng người.
Đầu giờ Thìn, bóng thành quách sừng sững của trấn phủ hiện ra sau rặng thông già. Cổng thành uy nghiêm treo cờ ngũ sắc mừng xuân, lính cơ bưng giáo đứng gác nghiêm ngặt.
Nhưng khi đoàn người Lạc Khâu vừa tiến đến chân cổng thành, một toán nha dịch cầm gậy sơn đỏ lập tức ùa ra chặn ngang lối đi. Từ trong điếm canh, Đặng tri huyện chắp tay sau đít lững thững bước ra. Y khoác áo lụa xanh thêu hoa văn sóng nước, ngón tay phe phẩy chiếc quạt ngà dẫu gió xuân còn se lạnh. Đôi mắt ti hí của viên tri huyện quét qua chiếc hòm gỗ lớn, khóe miệng nhếch lên nụ cười hiểm độc:
— Dừng lại! Hôm nay là ngày đại khảo thí của quan Kinh Lược sứ, người ra vào thành đều phải qua kiểm tra nghiêm ngặt. Lũ thợ chúng mày khiêng hòm gỗ to tướng, che đậy kín mít thế kia, ngộ nhỡ giấu giếm quân cấm vật, hỏa dược hay binh khí lậu trà trộn mưu toan làm loạn thì sao? Mau hạ hòm xuống, tháo hết vải bọc ra để bản huyện khám xét từng gang tấc!
Mộc Miên biến sắc, căm phẫn thốt lên:
— Vải dầu bọc thảm là để chắn bụi sương đường rừng! Các người tháo tung ra giữa đường bụi bặm, lại dây dưa trễ giờ khảo thí của nha môn thì ai đền nổi?
Đặng tri huyện sa sầm nét mặt, gõ mạnh quạt ngà lên gióng bồ gánh:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…