Mũi Tàu Đục Rạn Đá Dưới Đáy Đầm Côn
Chương 2: Áo Chàm Trôi Dạt Bãi Sậy
Ánh đuốc bập bùng từ ngoài lạch sâu hắt những vệt đỏ lòe loẹt lên mặt nước dập dềnh. Tiếng quát tháo của đám tuần đinh ràn rạt lướt theo ngọn gió biển:
“Tìm kỹ bờ lau! Hắn trúng kiếm độc, không chạy xa được đâu!”
Ngân Bá Tiêu nheo đôi mắt xám tro, bản năng tôi luyện qua mấy mươi năm sóng gió lập tức bộc phát. Thằng Lượm trằn trọc không yên vừa lén theo ông ra bãi lầy, chưa kịp thốt lên thì đã bị bàn tay rắn như gọng kìm của cụ vươn ra bịt chặt miệng, kéo ghì nép sát vào vòm lác rậm rạp ngập mặn. Lão khẽ lắc đầu ra hiệu cho đứa cháu giữ im hơi thở.
Mũi sào tre bịt sắt trong tay cụ Tiêu hạ thấp là là mặt bùn. Thân hình cụ chuyển động êm ru không một tiếng động, mũi sào móc nhẹ vào nếp áo chàm rách tả tơi của người lạ mặt, nhẹ nhàng ghìm thế rồi lựa dòng nước xoáy kéo phắt người nọ trượt trên bùn lầy, lách êm ru vào khoang lái chiếc thuyền nan.
Vừa lúc ấy, hai chiếc thuyền đinh của Thiết Thủy Trại lướt sượt qua mũi doi cát. Những ngọn đuốc tẩm dầu rực lửa quét loang loáng qua tán sậy rậm, cách chỗ hai ông cháu ẩn nấp chưa đầy nửa trượng. Ánh sắt lạnh của những lưỡi câu liêm sáng quắc chém rào rào vào mấy khóm lác ngập mặn ngoài mép nước.
“Mẹ kiếp, dấu máu cụt ở mép đá rồi! Chắc chìm xác dưới đáy Họng Cá Kình làm mồi cho tôm cá!”
“Kệ xác nó! Mau chèo về bến Vực Trâu hội quân với trại chủ, trễ giờ điểm danh là ăn đòn!”
Tiếng chèo khuấy nước sùng sục xa dần ra phía lòng đầm mênh mông. Đợi vệt sáng cuối cùng lặn hẳn sau rặng bần, cụ Tiêu mới buông tay khỏi miệng Thằng Lượm, thở hắt ra một hơi dài. Hai ông cháu vội vã hợp lực đẩy thuyền nan men theo con lạch ngầm khuất gió, đưa người bị nạn trở về chòi lá nép mình bên vách đá.
Dưới ánh đèn dầu lạc leo lét trên vách nứa, cụ Tiêu lật nghiêng thân thể kiếm khách để xem xét. Đó là một thanh niên trạc hai mươi tám tuổi, gương mặt phong sương góc cạnh xám ngoét vì mất máu, đôi mày kiếm nhíu chặt lại trong cơn mê man. Vạt áo chàm ướt sũng dính chặt vào da thịt, lưng áo bị chém ba nhát sâu hoắm vắt chéo, mép thịt bầm tím sủi bọt nhờn nhợt, chứng tỏ lưỡi đao của kẻ thù có tẩm chất độc ngâm muối biển. Bàn tay cụ Tiêu áp lên ngực chàng trai, cảm nhận được luồng nội tức hỗn loạn đang giằng xé kịch liệt trong tạng phủ.
“Bị nội thương lại dính trúng hàn độc của sông nước.” Cụ Tiêu trầm giọng, quay sang bảo cháu: “Lượm, mau lấy nắm rong ngải đầm Côn phơi khô trên giàn bếp, giã nát với ba hạt muối hột rồi hơ lửa cho nóng mang lại đây.”
Thằng Lượm lanh lẹ dạ một tiếng, chạy vội sang góc chạn nứa bốc nắm lá sẫm màu bỏ vào cối đá nhỏ, dùng chày gỗ giã dồn dập. Tiếng chày thậm thịch hòa cùng tiếng thở dốc nhọc nhằn của người nằm trên phản.
Cụ Tiêu dùng con dao cạo rạn đá khéo léo rạch bỏ lớp vải áo rách tơi bời. Trong cơn sốt cao mê sảng, hai cánh tay gân guốc của chàng kiếm khách bỗng co giật dữ dội. Chàng ôm ghì lấy một bọc vải gai mun bên hông, miệng lảm nhảm đứt quãng:
“Mật... mật thư... không được để rơi vào tay chúng...”
Bọc vải gai bị giằng mạnh tuột mở một góc, để lộ ra tập giấy điệp dày cộp ép lụa vàng, bên trên đóng dấu niêm phong bằng sáp đỏ tươi mang hình triện của nha môn Đề lĩnh hạt Đông. Ngay bên cạnh tấm chiếu cói, thanh đơn kiếm bọc vỏ gỗ mun sồi rơi lệch sang một bên, phần chuôi kiếm bọc da cá đuối đã bị gãy mất một góc do chịu phải đòn va đập kinh hoàng từ búa tạ hay xích sắt.
Cụ Tiêu thoáng chau mày. Dấu triện đỏ của nha môn hạt Đông vốn là thứ mà dân chài nghèo đầm Côn chẳng bao giờ dám tơ hào, bởi mỗi lần nó xuất hiện đều mang theo tai họa sưu thuế hoặc lệnh bắt bớ đi phu.
“Thuốc giã xong rồi ông ơi!”
Thằng Lượm bưng bát thuốc ngải nóng hổi bước tới mép phản. Thấy người thanh niên run rẩy muốn lật nghiêng làm rách thêm miệng vết thương, thằng bé vội vã đưa tay đỡ lấy bả vai chàng. Nào ngờ chiếc cúc áo tơi rách vai của Thằng Lượm bị vướng, sợi dây bện bằng chỉ ngũ sắc đeo nơi cổ tuột ra. Chiếc vòng bạc gia truyền do người mẹ quá cố để lại rơi xuống, va vào vỏ bao kiếm mun sồi phát ra một tiếng “keng” trong trẻo ngân dài.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…