Mũi Tàu Đục Rạn Đá Dưới Đáy Đầm Côn
Chương 4: Hoa Văn Vòng Bạc
Nghe tiếng thốt nghẹn ngào từ dưới hộc nước, cụ Ngân Bá Tiêu khẽ thở dài một tiếng, ánh mắt xám tro phẳng lặng như mặt nước đầm Côn lúc đứng gió. Cụ cúi người, vươn cánh tay gân guốc sạm màu mưa nắng xuống khoang ngầm, đỡ lấy nách Trần Lãng kéo chàng lên khỏi vũng nước lợ. Dù vết thương trên lưng đã bớt rỉ máu đen nhờ lớp rong ngải sao muối, cơ thể kiếm khách trẻ vẫn còn run rẩy vì ngấm lạnh và kiệt sức.
Vừa đặt chân lên sàn nứa, Trần Lãng đã buông thanh kiếm mun sồi sang bên, lập tức phủ phục xuống quỳ lạy, giọng nói đanh lại vì xúc động:
“Tiền bối cứu mạng tiểu tử hai lần, ơn này tày trời! Chẳng ngờ bốn mươi năm nay người đời đồn đại thủ lĩnh Kình Ngư Độc Bộ đã vùi thây nơi biển sâu, thì ra ngài lại ẩn danh ở chốn đầm lầy hẻo lánh này.”
Cụ Tiêu vội đưa hai tay đỡ chàng dậy, lắc đầu trầm giọng:
“Thiếu hiệp mau đứng lên. Cái danh Tiêu Kình Thiên hay Kình Ngư Độc Bộ gì đó đã theo bọt sóng tan biến từ nửa đời trước rồi. Giờ đây lão chỉ là một lão chài tám mươi tuổi râu tóc bạc phơ, ngày ngày cạy hào đục đá kiếm chén cơm nuôi cháu mà thôi.”
Trần Lãng đứng dậy, đôi mắt sáng nhìn chăm chú vào Thằng Lượm đang nép sau lưng cụ Tiêu. Chàng chỉ vào chiếc vòng bạc trên cổ thiếu niên, giọng khẩn thiết:
“Tiền bối đừng giấu nữa! Vết rạn chữ Đinh trên then cài khoang ngầm, cùng hoa văn mộng then khảm trên chiếc vòng bạc này, tuyệt đối không thể lầm lẫn. Đó là tín vật ước thệ giữa phường thợ lặn đục đá xứ Đông thuở trước!”
Cụ Tiêu đưa mắt nhìn đứa cháu ngoại. Thằng Lượm ngơ ngác đưa tay sờ chiếc vòng bạc lạnh ngắt nơi cổ họng, đôi mắt đen láy mở to đầy bỡ ngỡ. Cụ Tiêu khẽ vẫy tay gọi:
“Lượm, lại đây với ông.”
Cụ cẩn thận tháo chiếc vòng bạc khỏi cổ cháu, ngón tay cái chai sần chậm rãi miết lên từng đường chạm khắc chìm nổi. Dưới ánh sáng lù mù của ngọn đèn dầu lạc, những đường khắc tinh xảo hiện rõ hình sóng cuộn lồng vào mộng đá ba tầng, cùng một hình chiếc búa đục then chốt nhỏ bằng hạt thóc. Đôi mắt lão nhân mông lung nhìn ra màn đêm ngoài cửa liếp, giọng cụ chùng xuống, mộc mạc mà lắng đọng:
“Chiếc vòng này vốn là của mẹ cháu để lại trước lúc nhắm mắt. Ba đời nhà họ Ngân ta cắm sào sinh sống ở mạn biển này đều làm nghề thợ lặn rà luồng. Ngày xưa đầm Côn là cửa ải hiểm địa, đá ngầm hoa cương lô nhô như hàm răng quái thú, thuyền bè qua lại mười chiếc thì đắm đến bảy, tám. Tổ phụ rồi đến đời ông đã vận dụng thế lặn 'Kình ngư phá thạch', lặn sâu xuống đáy vực, dùng xà beng nêm chêm vào mạch nứt của đá ngầm mà bẩy tung từng khối đá tảng cản đường, mở ra luồng lạch thông suốt cho tàu bè vượt qua Bến Muối Vực Trâu. Chiếc vòng này không chỉ là bạc quý, mà chính là sơ đồ các khớp mộng then chốt dưới đáy rạn đá xứ Đông.”
Thằng Lượm nghe ông kể, bờ vai nhỏ khẽ run, lồng ngực gầy gò phập phồng:
“Hóa ra... nhà ta ba đời đều đục đá cứu người sao ông?”
“Đúng vậy con ạ,” cụ Tiêu khẽ xoa đầu cháu, giọng ấm áp. “Đạo nghề của người thợ lặn đầm Côn là đục đá mở đường sống cho bá tánh, chứ không phải vơ vét bạc tiền.”
Lúc này, Trần Lãng cẩn thận lấy từ trong bọc áo chàm ra một tập giấy được bọc kín ba lớp vải dầu. Chàng mở lớp niêm phong sáp đỏ còn hằn dấu ấn nha môn hạt Đông, trải lên ván thuyền rồi trầm giọng trình bày:
“Tiền bối hãy xem, mối họa của vạn chài không chỉ đơn thuần là lũ thủy phỉ Thiết Thủy Trại quấy nhiễu. Trong tập mật thư này ghi rõ từng khoản giao dịch mờ ám: quan Đề lĩnh Lê Quý Nhạc đã nhận hàng ngàn quan tiền kẽm cùng mười thỏi bạc trắng của Thiết Thủy Trại để làm ngơ cho bọn chúng chiếm cứ Bến Muối Vực Trâu. Hắn mượn tay thủy tặc phong tỏa luồng lạch, ép giá thu mua muối của diêm dân rẻ như bèo bọt rồi bán lậu ra ngoài mạn biển kiếm lợi riêng. Tiêu trại chủ hung hăng kia thực chất chỉ là con cờ bị viên quan tham này giật dây!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…