Ngọn Tiêu Kỳ Rẽ Lối Bão Đèo Mây

Chương 4: Miệng Hẻm Đầu Tiên

Thân hình Lưu Tông Diễn lướt nhẹ ra khỏi mái đá như một chiếc lá khô cuốn theo chiều gió. Cây gậy mây hun khói bịt sắt dựng nghiêng trước ngực, mũi gậy điểm nhẹ xuống nền tuyết không để lại một tiếng động nhỏ. Cụ ngước mắt nhìn lên vách đá sừng sững cao hơn ba mươi trượng chìm trong bóng tối dày đặc.

Trên gờ đá nhô ra sát triền băng, một bóng đen trùm kín da thú vừa cúi mình nấp sau phiến đá tảng. Kẻ đó thấy hành tung bại lộ liền lùi nhanh vào khe nứt, chỉ để lại tiếng gió rít qua kẽ đá và mấy hòn sỏi lăn lóc rớt xuống vực sâu thăm thẳm. Cụ Lưu đứng yên bất động trong gió lạnh buốt, lắng tai nghe ngóng hơi thở cùng tiếng bước chân đạp tuyết rời xa dần. Sau khi chắc chắn kẻ dò la đã rút lui mà không buông ám tiễn hay đẩy đá lớn xuống mái che, cụ mới khẽ thở ra một làn khói trắng, chậm rãi quay về bên đống lửa le lói canh chừng giấc ngủ cho đám tiêu phu đang kiệt sức.

Trời vừa hửng sáng, sương giá xám xịt phủ một lớp màn mỏng lạnh lẽo lên khắp sườn núi. Tiếng hí khẽ của bầy ngựa kéo thức tỉnh cả đoàn người.

Khi các tiêu phu thắng cương chuẩn bị dắt mười cỗ xe tiến ra khỏi mái đá, Thẩm Thiết Trụ đột nhiên khựng bước, sắc mặt đanh lại. Ngay lối vào độc đạo dẫn vào hẻm Nhạn Môn Cốc, hai tảng đá hoa xanh khổng lồ to bằng gian nhà nằm sừng sững chặn ngang hẻm hẹp, bịt kín đường đi không chừa một kẽ hở nào cho cỗ xe lọt qua.

“Khốn kiếp!” Thiết Trụ siết chặt chuôi đoản đao bên hông, giọng nghiến qua kẽ răng, mắt tóe lửa giận. “Đá tảng này hôm qua làm gì có ở đây! Lũ giặc phỉ rắp tâm dồn chúng ta vào chỗ chết!”

Lưu Tông Diễn lẳng lặng bước tới gần phiến đá. Cụ đưa bàn tay gầy guộc sờ lên bề mặt lởm chởm còn đọng tuyết. Ánh mắt cụ dừng lại ở một vết cứa ngọt lịm ăn sâu vào thân dây thừng bện bằng xơ gai quấn quanh một mấu đá phía trên.

“Không phải đá tự lở,” cụ Lưu điềm đạm cất giọng, ngón tay miết nhẹ mép xơ gai còn tươi mới. “Có kẻ đã cố tình dùng rìu chặt đứt dây chằng neo giữ đá từ đêm qua. Chúng muốn cầm chân đoàn xe.”

“Sư tổ, để đồ tôn dẫn mấy anh em leo lên sườn núi lùng sục băm vằn thây lũ khốn đó!” Thiết Trụ thở dốc, gân xanh nổi rần rật trên trán.

“Nóng nảy chỉ làm mờ mắt, cháu ạ,” cụ Lưu vỗ nhẹ bàn tay lên vai Thiết Trụ, ánh mắt tĩnh lặng như mặt hồ không một gợn sóng. “Người ta chặn đường thì mình mở đường. Lấy gậy gỗ và chão thừng ra đây.”

Theo hiệu lệnh của cụ, tiều phu râu xồm cùng hai phu xe già mang ra những thân gỗ nghiến chắc nịch dùng làm đòn bẩy. Cụ Lưu trực tiếp chỉ định từng điểm tựa dưới chân tảng đá, hướng dẫn Thiết Trụ và các tiêu sư trẻ luồn dây thừng qua gờ đá nhô cao để mượn lực kéo.

“Một… hai… bẩy!”

Tiếng hô trầm hùng của cụ Lưu vang vọng vách đá. Mười một con người cùng nghiến răng dồn hết gân cốt. Đòn bẩy uốn cong kèn kẹt, dây thừng căng ra kêu răng rắc. Mồ hôi túa ra trên trán rồi lập tức đông cứng thành những hạt muối trắng xóa bám chặt nơi gò má phong trần. Gần một canh giờ trôi qua trong tiếng thở hồng hộc và tiếng đá nghiến ken két buốt tai, tảng đá thứ nhất rồi tảng đá thứ hai lần lượt bị bẩy nghiêng sang rìa vực, mở toang một lối đi vừa vặn một thân ngựa.

Khi cỗ xe đầu tiên lăn bánh qua khe hẹp, Lưu Tông Diễn khẽ ngẩng đầu nhìn về phía sườn núi bên phải. Xuyên qua làn sương mù lảng bảng, trên một mỏm đá chênh vênh rậm rạp thông tuyết, một bóng người gầy guộc khoác áo da sói trắng đứng lặng lẽ nhìn xuống. Ánh mắt kẻ đó lạnh lẽo như mắt loài dã thú rình mồi. Nhưng chỉ trong một cái chớp mắt, bóng trắng ấy đã thoắt biến vào rừng thông rậm rạp.

Đoàn xe chính thức tiến vào lòng Nhạn Môn Cốc. Vừa lọt qua cửa hẻm, không khí xung quanh đột ngột chìm xuống lạnh buốt như rơi vào hầm băng ngàn năm. Vách đá hai bên dựng đứng thẳng tắp tựa hồ nhát kiếm chém đôi trời đất, che khuất hoàn toàn ánh dương. Nhìn lên trên chỉ còn thấy một dải trời hẹp bằng bàn tay, ánh sáng lọc qua mây tuyết nhuộm một màu xanh xám ảm đạm. Tiếng bánh xe bọc sắt nghiến trên mặt đường đá đóng băng dội vào hai vách núi, phát ra những âm thanh rờn rợn, nặng nề tựa tiếng đập cánh của bầy quạ đói.

Đi sâu chừng ba dặm đường dốc quanh co, một mùi khét lẹt nồng nặc mùi da thuộc và gỗ cháy xộc vào mũi.

Nằm lật nghiêng bên mép hẻm là xác một cỗ xe tiêu vỡ nát, khung gỗ đen đúa trơ trọi dấu vết bị phóng hỏa thiêu rụi từ nhiều ngày trước. Trên một cọc gỗ gãy găm sâu vào kẽ đá, một mảnh khăn đỏ rách bươm đang phất phơ trong gió lạnh, mép vải cháy xém đen sì.

Thiết Trụ sững người, bước chân lảo đảo. Hắn lao tới, run rẩy chạm tay vào mảnh khăn đỏ:

“Khăn… khăn của Đại Dũng… huynh đệ kết nghĩa của đồ tôn…”

Mắt Thiết Trụ đỏ ngầu, hàm răng cắn chặt đến mức rỉ máu nơi khóe môi. Nỗi đau đớn mất cha cùng ký ức về chuyến tiêu thảm sát đợt trước bùng cháy dữ dội trong lồng ngực. Hắn vung mạnh đoản đao chém phầm phập vào phiến đá bên cạnh, gầm lên một tiếng xé lòng:

“Lũ súc sinh Bạch Lang Ổ! Ta phải lột da róc xương các ngươi để tế linh hồn phụ thân và huynh đệ!”

Dứt lời, Thiết Trụ toan bỏ mặc cỗ xe hàng, cầm đao điên cuồng lao về phía trước hẻm sâu.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Nhật Minh
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Nhật Minh

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…