Ống Nứa Cất Tràm Sưởi Ấm Phá Tam Giang
Chương 11: Đắp Đất Ghép Nứa
Gió bấc từ vụng nước Tam Giang thốc lên từng cơn rát mặt, cuốn theo vị mằn mặn của sương muối đầm phá. Trước khoảng sân đất nện mép nước, hơn ba mươi người dân xóm Vạn Chòi vẫn đang đứng lặng, ánh mắt dồn cả về phía đống lá tràm xanh mướt ngun ngút mùi nhựa thơm. Hơi thở ai nấy phả ra khói trắng giữa cái lạnh cắt da, nhưng trong lồng ngực những người đàn ông phong trần sạm nắng lại đang nhen nhóm một ngọn lửa bồn chồn.
Bác Bảy Chài quẹt vội giọt mồ hôi lạnh đọng trên chóp mũi, bước lại gần Khoa, sốt ruột hỏi: — Cháu Khoa, lá tràm bà con bẻ về đã chất thành ngọn đồi rồi nì. Chừ làm răng nữa cháu? Cứ rứa mà trút hết vô nồi đun lửa lên à?
Khoa khẽ lắc đầu. Thằng bé quay người chạy tót vào góc chái bếp, cẩn thận bưng chiếc cối đá nhỏ bằng miệng bát cùng mảnh giấy bản ngả màu vàng vọt ra trước sân. Đặt chiếc cối đá lên tấm phản tre ọp ẹp, Khoa ngước đôi mắt trong veo nhìn quanh bà con: — Dạ chưa được mô bác Bảy. Lá tràm tươi vừa bẻ ngoài bãi còn ngậm nhiều sương đầm, nếu đổ đun liền thì hơi nước lã bốc lên làm loãng hết dầu, lại còn có mùi ngái đắng. Cha cháu dặn trong giấy, tràm muốn thơm nồng, trước hết phải chọn kỹ và ủ cho ngấu.
Chị Thược bước lại mé phản, khẽ đỡ lấy mảnh giấy bản ố dấu vân tay của người chồng quá cố, giọng nghẹn ngào nhưng rành rọt: — Đúng như lời dặn của cha thằng Khoa đó bà con. Phải lặt bỏ hết cọng già, cuống mục với lá úa. Chỉ giữ lại lá bánh tẻ dày mình, còn nguyên lớp phấn mịn trên mặt lá.
Nghe mẹ con chị Thược phân giải, mấy mươi bàn tay chai sần lập tức ngồi bệt xuống nền đất, thoăn thoắt phân loại đống lá xanh. Khoa ngồi thụp xuống bên chiếc cối đá, bốc một nắm lá tràm đưa lên, dùng hai lòng bàn tay xoa nhẹ cho mép lá vừa giập gân rồi đưa cho bác Bảy xem: — Các bác, các thím chỉ cần vò nhẹ cho giập mép rứa thôi nghen, đừng giã nát vụn kẻo chảy hết nhựa sống. Vò xong đem rải đều lên mấy chiếc nong tre ni, rồi lấy chiếu rách đậy kín lại ủ chừng một tuần trà. Lá se héo lại thì tinh chất mới gom tụ, lúc cất dầu mới được trong và thơm đậm.
Mùi lá tràm giập gân bắt đầu tỏa ra ngào ngạt, the the ngọt dịu, xua tan bớt cái vị ẩm mốc buốt giá nơi xóm chòi nghèo.
Trong lúc các bà các mẹ xúm quanh ủ lá, cánh trai tráng xóm chài bắt đầu xắn ống quần quá gối. Bác Bảy Chài vác chiếc mai sắt lớn, dẫn sáu thanh niên vạm vỡ ra mé bãi bồi ven đầm cuốc từng tảng đất sét xám dẻo quánh gánh về.
Khoa bước đến góc sân mép nước, dùng một que tre vạch lên nền đất ba vòng tròn đều đặn: — Bác Bảy ơi, bà con mình phải đắp ba bệ lò vòm nằm ngang nhau ở đây nì. Miệng lò phải quay xuôi theo chiều gió bấc để hút lửa thật đều, khoang dưới đắp sâu ba gang tay làm chỗ chứa củi gộc, còn vành lò trên phải uốn cong tròn để ôm khít đáy nồi đất lớn.
— Được rồi, việc vần đất đắp vòm thì cánh chài lưới tụi tau quen tay lắm! — Bác Bảy hào sảng gật đầu, vung mai nhào đất sét sền sệt cùng rơm rạ băm nhỏ.
Đất sét bãi bồi pha cát mịn được nhào thật kỹ, dẻo quánh như bột bánh. Dưới sự nhắc nhở tỉ mỉ của Khoa về độ dày của thành lò để giữ nhiệt thuần hậu, ba bệ lò vòm nung dần dần mọc lên vững chãi mép bờ đầm. Khoa đưa tay sờ nhẹ mép đất dẻo, lòng thầm tính toán: thành lò dày hai tấc này sẽ giữ hơi nóng không bị thất thoát ra ngoài ngọn gió bấc gầm rít, giúp ngọn lửa bên trong cháy êm ả, không bị hun khói đen làm khét mẻ tràm.
Cùng lúc đó, một nhóm thợ chài khéo tay mang đến hàng chục dóng nứa tép già óng ánh vỏ vàng rơm, được tuyển lựa kỹ càng ngoài các lùm tre ven phá. Khoa ngồi bệt xuống cạnh một bác thợ chài lớn tuổi, cầm dóng nứa lên ngắm nghía: — Nứa phải chọn dóng già, vỏ dày và không bị nứt kẽ nghen bác. Mắt nứa bên trong phải đục cho thật thông suốt, không để lại xơ dằm cản trở hơi tràm bay qua.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…