Sổ Thu Chi Khép Lại Án Thuế Cảng Cũ
Chương 12: Mạng Nhện Đen Quanh Dòng Lam
Tiếng gót giày đinh của toán lính khố xanh khuất hẳn sau rặng phi lao viền quanh sân gạch Tòa Sứ. Gió lạnh từ phía cửa biển thổi thốc vào thềm đá chái tây, cuốn theo lớp bụi mỏng và vài chiếc lá nhãn khô xào xạc. Cụ Lương Thế Vinh vẫn đứng bất động cạnh ngạch cửa, hai bàn tay gầy gò bám chặt vào đầu gậy mây. Lời đe dọa sắc lạnh của viên mật thám mặt choắt về tấm lưới truy nã bủa khắp bến bãi trước lúc chập tối hãy còn văng vẳng bên tai. Cụ khẽ thở hắt ra một hơi dài, chống gậy quay trở vào gian phòng tạm, cài chặt then cửa gỗ lim.
Ánh chiều tà hắt qua khung chấn song sắt những vệt sáng nhờ nhạt. Cụ Vinh vừa bước tới chiếc bàn gỗ gụ thì có tiếng gõ nhẹ ba nhịp ngắn, hai nhịp dài nơi cánh cửa ngách thông ra vườn hoa sau nhà.
Cụ buông gậy, cẩn thận nhấc then cài. Cánh cửa hé mở, Trần Thị Lan lách nhanh vào trong. Tấm áo nâu sồng của cô gái chèo đò đượm nồng mùi bùn non và rêu nước, mái tóc dính vài cọng rơm khô. Lan đưa tay vuốt vội lọn tóc mai bết dính mồ hôi, giọng còn dồn dập vì cuốc bộ đường xa:
— Cụ Cố yên tâm, anh An đã nằm gọn dưới sạp thuyền của chú Hai Chài ở chân cầu Bến Thủy rồi ạ. Cháu dỡ ba lớp lưới cá đè lên trên, lại dặn mấy đứa nhỏ chăn trâu trên bờ hễ thấy bóng lính đoan hay mật thám lảng vảng thì lập tức thổi tù và báo động.
Cụ Vinh kéo chiếc ghế gỗ mộc ra hiệu cho cô ngồi, rót một bát nước chè xanh còn âm ấm đưa sang:
— Cháu uống ngụm nước cho nhuận giọng. Thằng An vô sự là phúc lớn, nhưng nơi khám đường bên Ty Thương chánh tình hình thầy Thức ra sao rồi?
Ánh mắt Lan tối sầm lại, đôi bàn tay chai sạn nắm chặt lấy miệng bát sành:
— Cháu ghé qua chỗ người quen làm lính canh đồn đoan. Bọn chúng vừa chuyển anh Thức xuống buồng biệt giam ẩm thấp nhất dưới hầm đá. Quan Chánh thanh tra Charpentier hạ lệnh cấm tiệt người nhà tiếp tế, một hớp nước cũng không cho đưa vào. Chúng muốn bỏ đói bỏ khát để ép anh ấy phải ký vào tờ biên bản nhận tội biển thủ kho mười hai trước rạng sáng mai.
Cụ Vinh siết chặt hàm răng đã mòn vẹt, chòm râu bạc khẽ run lên. Nỗi căm phẫn dâng trào trong lồng ngực già nua, nhưng nét mặt cụ vẫn giữ vẻ trầm tĩnh vốn có của người từng trải qua nửa thế kỷ dâu bể.
— Chúng tưởng bóng tối và đòn hiểm nơi ngục tối có thể bẻ gãy được lòng trung thực của kẻ sĩ. Chú Thức giữ được tiết tháo thì già này dẫu còn một hơi thở cũng phải đem sự thật ra trước ánh sáng.
Cụ Vinh chậm rãi bước về góc phòng, nơi chiếc hòm sắt tây màu xám tro được đặt ngay ngắn trên kệ gỗ. Cụ rút chùm chìa khóa đồng giấu kỹ trong dải thắt lưng vải the, tra vào ổ khóa. Tiếng lẫy sắt bật lên khô khốc. Cụ nâng nắp hòm, lấy ra cuốn sổ cái bìa bọc da đen sờn góc của Thương đoàn Vĩnh Tuyền—tài liệu then chốt mà cụ cùng đám phu chài đã cứu thoát khỏi biển lửa đêm trước.
Đặt cuốn sổ cái lên mặt bàn gỗ gụ, cụ thắp thêm một ngọn đèn bão, vặn bấc cho ngọn lửa cháy tròn trịa, tỏa ra thứ ánh sáng vàng óng xua tan bóng tối đang ngưng đọng trong gian phòng. Cụ lau lại cặp kính lão gọng đồng, đặt lên sống mũi rồi mở từng trang sổ dày cộp.
Mùi giấy ẩm và mực dầu bốc lên cay nồng. Đây là cuốn sổ ghi chép dòng tiền ngầm mà Bạch Thái Hưng cất giữ kỹ lưỡng, đối lập hoàn toàn với cuốn sổ kê khai nộp thuế sơ sài trình cho Ty Thương chánh. Ngón tay trỏ chai sần của cụ Vinh lướt chậm rãi qua từng cột số, mắt soi kỹ vào các khoản chi phí bến bãi phụ trội.
Đến trang mục ghi chép các tháng giữa năm 1935, đôi mắt già nua bỗng nheo lại. Dưới các khoản chi mua gỗ đóng sà lan và tiền đút lót tuần ty, xuất hiện đều đặn một dòng chữ nhỏ viết bằng mực tím: “Phụ cấp thẩm định luồng lạch – Chi riêng K-19”.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…