Sổ Thu Chi Khép Lại Án Thuế Cảng Cũ
Chương 23: Bàn Tay Nối Nhịp Bến Sông
Nhận thấy nét băn khoăn trĩu nặng trong mắt người học trò trẻ trước khung cảnh hoang tàn của bến cảng, cụ Lương Thế Vinh khẽ đặt bàn tay gầy guộc lên vai Thức. Đôi mắt sau cặp kính lão gọng đồng ánh lên cái nhìn bao dung, giọng cụ trầm ấm xua tan nỗi hoang mang:
— Thức, con chớ nao núng. Nhà đổ thì dựng lại cột kèo, bến bãi rối ren thì cậy vào sự phân minh của ngòi bút. Bến sông Lam này đã trải qua biết bao mùa bão nổi, chỉ cần lòng người ngay thẳng thì không có tàn tích nào là chẳng thể dọn quang. Nghỉ ngơi cho lại sức, sáng mai theo già này ra bến.
Sáng hôm sau, sương sớm từ mặt sông Lam còn bảng lảng vương trên những rặng phi lao. Cụ Vinh chống chiếc gậy trúc mây, từng bước chậm rãi nhưng vững chãi cùng Thức trở lại Ty Thương chánh Bến Thủy. Nắng sớm rọi xuống khoảng sân gạch, nơi vụ hỏa hoạn đêm nào còn để lại những vết muội than loang lổ trên tường vôi vàng. Thế nhưng, sự vắng lặng u ám thường ngày đã biến mất. Hàng chục lại viên trẻ mặc áo the sờn cùng đông đảo bà con phu bốc vác vạn chài đang tấp nập xắn tay áo dọn dẹp. Tiếng chổi tre quét sàn sột soạt, tiếng xẻng thu gom gạch ngói vỡ vụn hòa cùng tiếng cười nói râm ran, làm bừng lên một sinh khí mới mẻ nơi công sở từng ngột ngạt uy quyền thực dân.
Thấy cụ già lão thành chống gậy bước qua cổng sắt, mọi người đồng loạt dừng tay, kính cẩn ngả nón cúi chào:
— Chúng con kính chào Cụ Cố Ký! Chào thầy Thức!
Cụ Vinh khẽ gật đầu, đưa mắt nhìn khắp lượt những gương mặt lấm lem tro bụi nhưng rạng rỡ niềm tin. Việc đầu tiên cụ tiến hành là cùng Thức kiểm tra chiếc hòm sắt tây màu xám tro được chuyển tới từ kho văn thư Tòa Sứ. Đích thân cụ mở nắp hòm, nâng niu cuốn “Sổ đăng ký mớn nước tàu thuyền bến Bến Thủy – Niên hạn 1935” cùng các tập lưu vận đơn gốc có dấu mộc giả của Thương đoàn Vĩnh Tuyền. Dưới sự chứng kiến của hai viên thư ký Tòa án Bảo hộ, cụ Vinh cẩn thận bọc từng tập tài liệu bằng giấy dầu chống ẩm, đặt vào khay gỗ lim rồi niêm phong bằng sáp đỏ đúng thể thức hành chính lưu trữ vĩnh viễn, chuyển giao vào văn khố bảo mật của tỉnh để làm chứng cứ pháp lý muôn đời.
Xong việc lưu trữ, cụ Vinh chống gậy dẫn Thức cùng các lại viên bước sang gian bàn giấy kho 12. Dãy nhà kho dài hai mươi thước tây này từng là tâm điểm của vụ án biển thủ muối mỏ. Cụ ngồi xuống chiếc ghế đẩu mộc bên chiếc bàn gỗ thô ráp, ngoắc tay gọi Thức và mấy thầy ký trẻ lại gần.
— Các thầy hãy nhìn cho kỹ, — cụ Vinh mở cuốn sổ nhật ký kế toán mới tinh còn thơm mùi giấy bản, ngón tay điểm nhẹ lên những hàng kẻ dọc phân minh. — Lòng tham của bọn sâu mọt nảy sinh chính từ chỗ mập mờ, bưng bít số liệu. Muốn bến cảng này không còn cảnh lộng quyền, bắt buộc phải thiết lập lại thể thức đối soát kế toán kép cho thật minh bạch. Từ nay, mọi chuyến sà lan hay thuyền buôn cập bến dỡ hàng, tuyệt đối không để một người tự tung tự tác định đoạt.
Nguyễn Duy Thức chăm chú lắng nghe, tay cầm bút sắt cẩn thận ghi chép từng lời dặn dò của người thầy già. Cụ Vinh từ tốn giải thích:
— Trên mỗi tờ vận đơn đường thủy và phiếu nhập kho, bắt buộc phải có chữ ký xác nhận của đủ ba bên độc lập: thứ nhất là thầy ký lục đối soát sổ bộ, thứ hai là thầy thủ kho kiểm đếm hàng thực tế, và thứ ba là người đại diện phu vạn chài trực tiếp bốc dỡ. Ba bên cùng ký tên điểm chỉ, đối chiếu song song giữa cân nặng thực tế và mức chìm mớn nước của đáy thuyền ghi trong sổ bến. Thiếu một nét mực, một con dấu, kho hàng dứt khoát không mở cửa xuất nhập. Có như vậy, kẻ gian muốn cạo sửa một ly cũng chẳng thể che mắt được bàn dân thiên hạ.
Một viên ký lục trẻ nghe xong tấm tắc thán phục:
— Thưa Cụ Cố, cách thức này thật chặt chẽ khôn cùng! Xưa nay phu phen bốc dỡ chỉ biết bỏ sức làm thuê, nay được đứng tên giám sát biên lai thì bọn gian thương dẫu có mua chuộc quan trên cũng chẳng dám lộng hành tráo hàng nữa.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…