Sổ Thu Chi Khép Lại Án Thuế Cảng Cũ
Chương 6: Trà Đắng Nửa Đêm
Trần Thị Lan siết chặt tay dầm, gật đầu dứt khoát trước lời căn dặn của cụ Vinh:
— Cụ Cố cứ yên lòng. Anh em bến sông này chịu ơn dạy chữ, dạy tính của cụ từ thuở hàn vi. Đêm nay, chỉ cần mép nước có ngọn lửa lạ hay bóng người khả nghi lảng vảng, phảng sắt của vạn chài sẽ gõ ran mặt sóng.
Cô thoăn thoắt gạt mái chèo, đưa mạn thuyền nan nép êm ru vào rặng bần sát mép sông Lam, nơi Lương Thế An đã đợi sẵn trên bờ đỡ cụ già chín mươi tám tuổi bước lên con đường đất đỏ. Ngay trong canh khuya ấy, mấy chiếc thuyền chài mui nan rải rác buông neo, giả cách cắm sào thả lưới rập rình dọc khúc sông áp sát bức tường hậu của Ty Thương chánh. Một mạng lưới tai mắt thầm lặng của phu phen sông nước đã khép kín quanh gian tàng thư khố.
Sáng hôm sau, sương mù từ Cửa Lò còn đặc quánh bọc lấy dãy nhà gạch vôi vàng, cụ Lương Thế Vinh đã chống gậy trúc bước qua cổng sở Đoan. Hai tên lính đoan bồng súng đứng gác nhìn cụ trừng trừng, song trước trát lưu dụng và vẻ mực thước ung dung của vị cựu ký lục lão thành, chúng chỉ hậm hực hé cửa cho cụ vào.
Khép hờ cánh cửa gỗ lim nặng trịch để ngăn gió bấc, cụ Vinh bước đến góc phòng, châm ngọn đèn bão đặt lên chiếc bàn con nhẵn bóng mép gỗ. Không khí ẩm mốc của giấy má lưu cữu bao năm phả vào sống mũi. Cụ chậm rãi tiến đến chiếc hòm sắt tây màu xám đặt ở góc tường khuất, tra chìa khóa đồng mở nắp. Bên trong là các tập lưu vận đơn đường thủy gốc của ba năm gần nhất—chứng từ giáp lai quan trọng mà Charpentier chưa kịp đem đi thẩm tra.
Đưa bàn tay khẳng khiu lần giở từng xấp giấy bản ngả màu vàng ố, cặp kính lão gọng đồng trễ xuống tận chóp mũi, cụ Vinh tỉ mỉ đối chiếu từng tờ vận đơn mang tên Thương đoàn Vĩnh Tuyền từ năm 1935 đến 1936. Những chuyến sà lan chở than đá, vôi sống và nông sản xuôi ngược mạn sông Lam hiện lên chi chít dưới nét bút sắt gai góc. Bằng con mắt nghề nghiệp tích lũy qua hơn nửa thế kỷ, cụ dừng lại ở một điểm bất thường: toàn bộ các chuyến hàng cập bến lúc nửa đêm của thương đoàn này, dù trọng tải ghi chép rất chênh lệch, đều được đóng một con dấu kiểm định mực đỏ tươi rói của Phòng Thương mại địa phương, kèm chữ ký duyệt vội vã không qua bàn đối soát của ngạch thuế quan thường lệ.
— Cùng một lối đóng dấu vội, cùng một chữ ký bao che… — cụ Vinh lẩm bẩm, ngón tay miết nhẹ trên bờ mép vết mực son. Con đường luân chuyển hàng lậu đội lốt than đá đã được chuẩn bị bài bản từ nhiều năm trước, chứ chẳng riêng gì vụ thâm hụt muối và gạo tháng Bảy vừa qua.
Thời gian chầm chậm trôi theo từng tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc treo tường. Buổi chiều tàn dần, tiếng còi tầm từ Nhà máy cưa Bến Thủy rúc lên từng hồi dài báo hiệu tan ca. Các thầy ký, thầy phán trẻ tuổi lục tục thu dọn nghiên bút ra về, tiếng đế giày nện thưa dần trên sàn gạch bông nứt nẻ rồi trả lại cho dãy hành lang sự tĩnh mịch lạnh lẽo.
Trời sập tối hẳn. Gió mùa đông bắc rít qua khung cửa chấn song sắt, kéo theo hơi nước lạnh buốt. Cụ Vinh vẫn ngồi bất động bên ngọn đèn dầu le lói, ghi chép số hiệu các chuyến tàu đáng ngờ vào mảnh giấy con giấu trong tay áo.
Bỗng nhiên, tiếng then cài lách cách vang lên. Cánh cửa phòng tàng thư bật mở, một luồng gió lạnh thốc vào làm tim đèn bão chao nghiêng.
Một bóng người đẫy đà bước vào, kéo theo mùi nước hoa Tây sực nức át cả mùi ẩm mốc của giấy cũ. Đó là Bạch Thái Hưng, viên Hội đồng thương mại kiêm Bang trưởng thương đoàn Vĩnh Tuyền. Y mặc chiếc áo gấm đen thêu chìm chữ thọ, cổ quàng khăn lụa trắng, ngón tay đeo chiếc nhẫn ngọc cẩm thạch xanh biếc lấp lánh dưới ánh đèn. Nụ cười nở trên khuôn mặt phương phi đẫy đà nhưng đôi mắt ti hí lại đảo quanh gian phòng như loài chuột cống rình mồi.
— Chà, Cụ Cố Ký vẫn miệt mài với đống giấy lộn này giữa đêm hôm thanh vắng sao? Thật là bậc túc nho tận tụy hiếm có! — Hưng cất giọng ngọt nhạt, khép cánh cửa lại rồi thong thả tiến đến trước bàn cụ Vinh.
Cụ Vinh không ngẩng đầu lên ngay, chỉ từ tốn hạ ngòi bút sắt xuống nghiên gốm, đoạn khẽ nâng cặp kính lão nhìn đối phương:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…