Thẻ Ngà Kiểm Điền Đập Tan Bẫy Hào Tộc
Chương 7: Ánh Lửa Canh Ba Trên Cánh Đồng
Cụ Thược đưa tay giữ chặt bả vai Điền Tố, khẽ lắc đầu ra hiệu im lặng. Ba đốm lam quang chập chờn trên rặng dâm bụt chỉ lượn vòng cách hai thầy trò chừng vài trượng, tỏa ra luồng linh khí mỏng manh nhưng buốt giá.
— Đừng sợ. — Cụ Thược ghé sát tai học trò, thì thào bằng chất giọng trầm ổn. — Đó là Phù Điệp Dẫn Quang do lũ đệ tử ngoại môn Cố gia phóng ra, loài bướm linh này chỉ lần theo dao động linh lực hoặc hơi ấm ngọn đèn. Thầy trò ta là phàm nhân, trên người không mang nửa điểm linh căn. Cúi thấp người xuống rãnh nước ven ngõ, men theo bờ dâm bụt mà đi.
Hai thầy trò nép sát vào bức tường đất ẩm ướt, bàn chân lặng lẽ giẫm lên lớp cỏ ướt đẫm sương đêm. Đúng như lời cụ dặn, đàn bướm phát quang lơ lửng một thoáng trên không trung, không dò thấy chút gợn sóng linh khí nào từ hai bóng người áo chàm, liền chao cánh bay vụt về phía cổng huyện nha sáng rực ánh đuốc.
Thoát khỏi tầm mắt của bầy bướm linh, cụ Thược dẫn Điền Tố rảo bước nhanh hơn. Men theo con mương tiêu úng xóm Đông ngập ngụa bèo tây, hai thầy trò đã thấy bóng bà Ba Khương cùng bốn người nông dân đang nấp dưới rặng tre rậm rạp. Thấy cụ Thược tới nơi bình an, bà Ba Khương thở phào, vội bước lại đỡ lấy chiếc tay nải trên vai Điền Tố:
— Đội ơn trời đất, cụ Thược và chú Điền đã ra được tới đây. Cọc mộc vót nhọn cùng dây gai dầm dầu chúng tôi đã chuyển sẵn ra điếm canh ven đồng rồi.
— Đừng chậm trễ. — Cụ Thược nghiêm giọng, vén vạt áo chàm buộc gọn ghẽ quanh hông. — Giờ đã sang canh ba, sao Bắc Đẩu đang ở vị trí cao nhất. Đêm nay phải đo xong dải đất tiếp giáp đầm Mẫu Đơn.
Cả đoàn người lặng lẽ tiến vào cánh đồng rộng năm vạn mẫu. Gió bấc từ dãy Thúy Vi thổi thốc qua bình nguyên mênh mông, mang theo cái lạnh cắt da xé thịt và mùi linh sát tanh nồng bốc lên từ dòng nước đục ngầu. Dưới chân, bùn lầy nhão nhẹt ngập sâu đến bắp chuối. Đất ruộng vốn màu mỡ nay bị ngâm trong linh sát trở nên nhờn rít, bốc khói mờ ảo dưới ánh trăng tàn.
Nhìn vị điển lại trăm tuổi đang run rẩy xắn ống quần lội xuống lớp bùn buốt giá, một người nông dân vội bước tới chìa lưng:
— Cụ Thược, cụ tuổi cao sức yếu, để con cõng cụ qua bãi bùn này!
Cụ Thược xua tay, ánh mắt quắc thước rực sáng giữa đêm đen:
— Đất của ông cha để lại đang rên xiết dưới chân. Muốn đo được con số chân thực của non sông, đôi chân lão già này phải tự mình đạp trên đất thịt. Bà con căng dây, cắm cọc tiêu theo đúng vị trí sao trời cho lão!
Lời nói rắn rỏi của cụ như truyền thêm ngọn lửa sưởi ấm lòng những người nông dân lam lũ. Từng chiếc cọc gỗ bạch đàn và tre già vót nhọn được cắm phập xuống bờ ruộng theo khoảng cách định sẵn. Sợi dây gai dầm dầu mè đen bóng được kéo căng thẳng tắp, không hề chùng xuống dù gió đêm thổi mạnh.
Cụ Thược quỳ một gối trên bờ đất ẩm, rút chiếc ống đồng mở nắp, cẩn trọng lấy ra cây thước cuộn dây đồng sáng bóng và Thẻ Ngà Kiểm Điền ngự tứ. Đặt tấm thẻ ngà làm đế kê thăng bằng, cụ nâng ống ngắm bằng đồng hướng thẳng về phía chòm sao Bắc Đẩu rực sáng trên nền trời phương bắc. Ánh mắt cụ nheo lại, ngắm chuẩn đường dây dọi chì rủ thẳng tắp, điều chỉnh từng góc chiếu qua khe thước.
— Cọc thứ nhất, phương Tý lệch ba phân! — Cụ Thược đọc rành rọt từng con số đo đạc cổ truyền. — Điền Tố, kéo thước dây đồng tới mốc bờ cũ!
Điền Tố nhanh nhẹn lội bùn, hai tay ghì chặt đầu thước đồng có khắc khấc số tinh xảo. Chàng áp sát mặt thước vào thân cọc mộc, mắt mở to kinh ngạc rồi quay lại cất tiếng:
— Thưa sư phụ, khoảng cách từ tim sông Linh Tuyền mới nắn dòng đến mốc bờ cũ là mười trượng bốn thước! So với bản đồ đinh bạ cổ tám mươi năm trước... lệch đúng ba trượng hai thước lấn sâu vào dân điền!

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…