Thùng Đấu Gỗ Dâu Soi Thấu Dạ Người
Chương 1: Tiếng gạt đồng bên hiên gió
Gió bấc rít qua rặng tre ngả nghiêng ven dòng sông Chu, thốc từng luồng lạnh buốt vào khoảnh sân gạch từ đường họ Lại. Tiết Lập đông vừa chạm ngõ, đất trời làng Vọng Khê bàng bạc một màu xám xịt sau trận lũ dữ đầu vụ. Cụ Lại Bá Khiêm ngồi xếp bằng trên tấm chiếu cói đã sờn mép nơi hiên tây, lưng thẳng như thân dâu già cắm rễ sâu trong vườn tổ. Đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt gân xanh của cụ nâng nhẹ chiếc que gạt đồng bóng loáng, chầm chậm đưa qua phiến đá mài bùn mịn màng đặt bên chậu gốm.
Mỗi nhịp miết của que đồng vang lên rào rạo, đều đặn và chuẩn mực. Cụ Khiêm ngước mắt nhìn qua ngọn cau rũ nước, trông ra những nếp nhà tranh xơ xác cuối xóm. Mùa lũ quét qua cuốn trôi cả bãi dâu non lẫn mấy vạt lúa trổ đòng ngoài bãi bồi, để lại mùa giáp hạt trĩu nặng âu lo, phảng phất mùi bùn ngấu và khói rơm ẩm mốc.
“Cụ kỵ ơi, chút mang nước ấm để cụ rửa tay này!”
Tiếng gọi trong trẻo kéo cụ Khiêm về với thực tại. Bé Lại An Nhiên tám tuổi tay xách chậu gốm nhỏ tỏa khói nghi ngút, tay kia cặp chiếc chổi rơm quét dồn đống lá dâu rụng bên thềm gạch. Con bé nhỏ thó trong manh áo cộc vá vai, đôi mắt đen láy mở to nhìn que đồng sáng lóa trên tay cụ.
Cụ Khiêm buông que đồng xuống manh giẻ khô, khóe mắt nhăn nheo ánh lên nét cười từ hòa:
“Nhiên đấy à? Gió bấc thế này mà chút chạy chân trần ra sân gạch, không sợ cóng bàn chân sao?”
“Dạ không buốt đâu cụ kỵ. Chút quét xong lá dâu rồi thổi lửa nấu nước liền. Mẹ chút bảo tiết Lập đông nước giếng lạnh buốt thấu xương, cụ mài que đồng xong phải ngâm tay nước ấm kẻo cóng gân.”
Con bé đặt chậu nước xuống chiếc đôn đá cạnh hiên, thoăn thoắt vắt manh khăn vải mộc đưa cho cụ kỵ. Cụ Khiêm nhúng đôi tay già nua vào làn nước ấm, lòng dâng lên niềm xót xa khôn xiết khi thấy khóe má con bé hóp lại vì thiếu hạt cơm nóng mấy ngày nay. Cả làng Vọng Khê đang oằn mình chống chọi với cái đói rình rập ngoài ngõ.
Bên ngoài cổng gạch, tiếng bước chân bì bõm dẫm trên lối ngõ bùn lầy kéo đến. Lại Hữu Tĩnh vai khoác chiếc tơi lá rách bươm, bước vội vào sân. Nét mặt chữ điền rám nắng của người cháu đích tôn chi trưởng phủ đầy nét khắc khổ, đôi mày rậm chau lại nặng nề. Hắn cởi chiếc tơi máng tạm nơi hàng rào cúc tần, khép nép bước lên thềm hiên, chắp tay cúi rạp:
“Chắt kính lạy Cụ cố. Chắt vừa đi một vòng ngoài đồng trũng và ghé qua mấy nhà tá điền dưới bến sông về.”
Cụ Khiêm khẽ vuốt chòm râu bạc như cước, đón lấy chiếc que đồng vừa lau khô rồi từ tốn hỏi:
“Tình hình bà con ngoài đồng xơ xác lắm phải không chắt?”
Hữu Tĩnh thở dài một hơi sườn sượt, giọng nghẹn lại:
“Dạ thưa Cụ cố, bão lũ tràn qua vỡ đê quai, bùn cát lấp hết ruộng trũng. Nhà thím Thược và mấy hộ cấy rẽ chỉ gặt mót được dăm ba thúng lúa lép dính bùn. Hôm nay theo lệ họ là mở kho thu lúa tô và tính việc trích thóc giống dự trữ. Nhưng nhìn cảnh bà con chực đứt bữa, chắt xót xa quá. Nếu thu đủ tô theo sổ họ thì dân nghèo chết đói, mà trích kho lúa cứu tế nhiều thì sợ kho họ trống rỗng, đến rằm tháng Chạp tế tổ không lấy gì đắp đổi.”
Cụ Khiêm lắng nghe từng lời của đứa cháu hiền lành, ngón tay nhẹ nhàng miết qua mép vát sắc gọn của que đồng. Đạo làm người đứng đầu một chi họ, giữ gìn ba mươi mẫu ruộng hương hỏa màu mỡ của tổ tông truyền lại chưa bao giờ là việc dễ dàng. Cụ trầm ngâm cất lời:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…