Thước Thợ Nện Cong Gông Cùm Hầm Mỏ
Chương 15: Chạy Đua Với Giờ Chết
Tiếng xích sắt khóa nghiến vào then cửa gió chính dội ngược lại lòng hầm như tiếng đóng sầm nắp quan tài. Ngay khoảnh khắc ấy, luồng hơi mát mỏng manh cuối cùng rứt khỏi vách đá, nhường chỗ cho cái nóng hầm hập của lòng đất trỗi dậy bóp nghẹt buồng phổi.
Cụ Ba Trình tựa lưng vào sườn xe goòng trật bánh, ngực thắt lại từng cơn buốt nhói. Chỉ sau chưa đầy nửa khắc, không khí tầng âm bốn mươi đã đặc quánh như cháo loãng nấu lẫn xỉ than. Hơi ẩm mốc meo, mùi lưu huỳnh nồng nặc hòa với mùi mồ hôi chua loét quẩn quanh không lối thoát. Cách đó mươi bước chân, hai phu thợ bửa thuộc kíp ngoài ngã vật ra rãnh lò, ôm bụng nôn mửa thốc tháo ra bãi mật xanh mật vàng, hai mắt trợn ngược vì ngột khí.
Cu Sắn quỳ rạp dưới chân cụ, hai tay bấu chặt vào đá dăm, thở hắt ra từng ngụm đứt quãng:
“Bố Ba… ngực con tức như có tảng đá tạ đè lên… Chúng nó khóa tiệt gió thế này, liệu có sống nổi qua đêm nay không bố?”
“Ngồi thụp xuống, sát mặt đất mà thở!” Cụ Ba hạ giọng dứt khoát, đưa bàn tay gân guốc đè chặt vai Sắn xuống thấp. “Khí nhẹ bốc lên vòm, tầng đáy còn chút hơi thở cầm cự. Nghe già dặn đây: Renard rút hạn nổ mìn xuống còn ba ngày, nghĩa là chúng ta không thể thụ động chờ đợi chuyến thanh tra của ông Mercier được nữa. Ba ngày sau mìn kích hỏa ở ngách số 5, túi khí mỏ phát nổ thì không ai sống sót để gặp thanh tra đâu. Phải thông bằng được giếng trời phụ trước khi kíp mìn của nó bén lửa!”
Nói đoạn, cụ Ba quay sang Đượm đang run rẩy nép bên vách đá:
“Đượm, bò men theo chân ray ra xóm lán Tro, gọi thằng Thao, chú Quỳ với bốn đứa thợ mộc tổ chống lò vào đây. Bảo chúng nó mang theo cưa tay, đục và gióng bương đựng nước phèn. Đi khẽ, tuyệt đối tránh mắt lính gác!”
Đượm cắn môi gật đầu, rạp người bò lướt qua bóng tối như một con thằn lằn.
Chưa đầy nửa giờ sau, bóng sáu người thợ nòng cốt của xóm lán Tro lầm lũi xuất hiện nơi ngách số 4. Gương mặt ai nấy xám ngoét, bờ môi khô nứt nẻ nhưng ánh mắt rực lên niềm tin tuyệt đối khi nhìn thấy cụ già chống cây thước thợ đứng đợi. Không một lời hô hào sáo rỗng, cụ Ba chia kíp thợ thành ba tổ xoay vòng liên tục: tổ bửa đá, tổ dội nước phèn dập nhiệt, tổ vét đá vụn lèn chặt xuống gầm xe goòng đưa ra bãi thải.
“Cứ mỗi khắc đổi người một lần,” cụ Ba nghiêm giọng dặn dò, tay vỗ vào vai từng người thợ. “Không ai được ham làm quá sức mà lả đi. Đục trúng vỉa cứng phải gặm từng thớ, tuyệt đối không được nện búa dội lửa. Nhớ lấy, chúng ta đang đào đường sống cho hai trăm anh em dưới đáy lò này!”
Kỷ luật thép của cụ Ba như liều thuốc hồi sinh truyền vào từng thớ cơ bắp rã rời. Dưới ngách lò chật chội ngột ngạt, tiếng đục chạm đá không còn xao xác, hỗn loạn mà biến thành nhịp điệu đều đặn, bền bỉ. Mồ hôi túa ra như xối, róc rách chảy qua những vết lở loét do bụi than ăn da, nhưng không một ai buông tay. Khi người này vừa lảo đảo vì kiệt sức, người kia lập tức ghé vai thay thế, nhịp choòng sắt không ngơi nghỉ dù chỉ một khắc.
Ở góc khuất mép cửa ngách, dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu hỏa che kín bằng mo cau, thầy giáo Sanh ngồi ép sát vách than. Cặp kính cận buộc dây dù trễ xuống sống mũi, chiếc áo cộc rách tả tơi ướt sũng mồ hôi. Sanh cẩn trọng lật từng trang của cuốn sổ tay bìa cứng bọc vải gai nâu, ngón tay run run kẹp mẩu bút chì than vẽ lại biểu đồ khí áp.
Cụ Ba Trình bước lại gần, rút cây thước thợ bằng gỗ nghiến giắt bên hông ra. Cụ áp cạnh thước thẳng tắp vào đường thông gió tự tạo từ lỗ khoan mồi. Sợi tơ tằm mảnh ở đầu thước khẽ rũ xuống một góc chênh chếch, run rẩy theo từng đợt co giật của áp suất ngầm.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…