Thước Thợ Nện Cong Gông Cùm Hầm Mỏ
Chương 19: Hồ Sơ Vải Gai
Tiếng kêu thảng thốt bằng tiếng Pháp của vị kỹ sư thanh tra vẫn còn văng vẳng giữa thung lũng đá xỉ. Louis Mercier không buồn liếc nhìn vẻ giận dữ của Paul Renard hay sự lăm lăm của đám lính khố xanh. Ông ta rảo bước thật nhanh trên đôi ủng da, dằn từng bước dứt khoát trên nền đá dăm rồi dừng lại ngay trước mặt cụ Ba Trình.
Cụ Ba đứng im như một gốc thông già cắm rễ vào lòng đá, bàn tay gầy guộc nâng vững chiếc đèn an toàn Davy ngang tầm ngực. Dưới ánh bình minh nhạt nhòa của vùng biển vịnh, lớp vỏ đồng thau sáng ánh lên vẻ trầm tĩnh, uy nghiêm.
Mercier run run đưa bàn tay mang nhẫn bạc ra, ngón tay khẽ chạm vào thành lưới kim loại. Đôi mắt vị thanh tra mở to sau cặp kính tròn, xem xét kỹ lưỡng từng mối hàn chì, từng nếp uốn tỉ mỉ trên bầu lưới đồng. Lớp lưới kép được nắn thẳng thớm, đan khít rịt theo quy chuẩn hai mươi tám mắt trên một phân vuông không sai một ly, ngăn cách hoàn hảo ngọn lửa vàng dịu bên trong với luồng không khí bên ngoài.
“Lưới đồng kép... bấc dẹt sợi bông tẩm dầu lạc... Khóa ren đáy xoay ngược theo đúng thiết kế của Humphry Davy...” Mercier lẩm bẩm, giọng đượm vẻ sững sờ khó tin. Ông ta ngẩng đầu lên, nhìn xoáy vào đôi mắt sâu thẳm của người phu già: “Một chiếc đèn mỏ kiểu Pháp từ xưởng Saint-Étienne. Nhưng các mắt lưới đã được gò phẳng và cân chỉnh lại bằng tay... Ai đã làm ra thứ này?”
Cụ Ba Trình khẽ mỉm cười, nét cười hằn sâu trên những nếp nhăn nhuốm bụi than:
“Một công cụ để giữ mạng sống cho phu than dưới lòng đất tăm tối, thưa ông thanh tra. Dưới đáy sâu bốn mươi thước, chúng tôi không phân biệt thép Pháp hay tay thợ Việt, chỉ có sự sống đối đầu với thần chết mà thôi.”
Nói đoạn, cụ Ba khẽ nghiêng đầu sang bên trái, đưa mắt ra hiệu cho chàng thanh niên đeo kính cận buộc dây dù.
Hiểu ý người thầy già, Nguyễn Đình Sanh hít sâu một hơi. Cậu tiến lên nửa bước, vẻ khép nép thường ngày biến mất, thay vào đó là sự đĩnh đạc của một người mang sứ mệnh thiêng liêng. Sanh giơ hai tay, dõng dạc nói bằng một thứ tiếng Pháp chuẩn mực, ngữ điệu thanh tao đậm chất trí thức Hà thành:
“Thưa Ngài Thanh tra Sở Khoáng chất. Nếu chiếc đèn Davy này là bằng chứng cho thấy mối hiểm họa khí cháy đã hiện hữu dưới đáy lò, thì tập tài liệu này chính là biên bản khoa học ghi lại toàn bộ diễn biến của nó suốt ba tuần qua. Kính chuyển Ngài kiểm định.”
Sanh trịnh trọng trao cuốn sổ tay bìa cứng có lớp vỏ bọc bằng sợi gai thô màu nâu sẫm cho Mercier.
Trước những câu tiếng Pháp lưu loát và gãy gọn phát ra từ miệng một tên phu than áo rách tả tơi, Mercier sững sờ đón lấy cuốn sổ. Ở phía sau, sắc mặt Paul Renard thoắt trắng thoắt xanh. Nhìn vẻ mặt sững sờ của viên chủ mỏ, cụ Ba hiểu hắn không ngờ trong đám thợ mà hắn luôn khinh rẻ lại có người nói được thứ tiếng Pháp mực thước của giới trường ốc danh giá.
Mercier lật mở trang bìa. Đôi mày rậm của vị kỹ sư giật thót khi đập vào mắt ông ta là những hàng chữ viết tay nắn nót, ngay ngắn bằng mực tím pha mồ hôi. Từng trang giấy mở ra là một công trình trắc đạc địa chất và khí động học ngầm sống động đến nghẹt thở.
Trên đó, sơ đồ các vỉa than của tầng âm bốn mươi được phác họa rõ nét, chia tách rành mạch giữa ngách số 2, ngách số 3, ngách số 4 và vỉa than lõi ngách số 5. Các biểu đồ dao động áp suất hầm lò vẽ bằng nét than mảnh dè dặt, ghi nhận sự sụt giảm lưu lượng gió từng khắc, từng giờ suốt hai mươi mốt ngày đếm ngược. Từng cột mốc thay đổi màu sắc và chiều cao của chóp lửa đèn Davy được đánh dấu tỉ mỉ: từ vệt lam mờ một phân cho đến khi chóp lửa xanh rực vọt cao chạm ngưỡng nổ hai mươi ly.
Càng lật giở, hơi thở của Mercier càng trở nên gấp gáp. Những số liệu này không hề có sự mơ hồ, ngụy tạo, mà mang đậm tư duy thực nghiệm của một bộ óc tinh thông về cơ học chất khí.
Đúng lúc ấy, cụ Ba Trình thong thả rút cây thước thợ bằng gỗ nghiến bóng loáng giắt bên hông ra. Cụ đưa ngón tay trỏ chai sạn miết dọc theo từng vạch ly, vạch tấc khắc sâu vào thớ gỗ rắn đanh, rồi chỉ thẳng vào trang nhật ký ghi ngày thứ mười ba trong cuốn sổ mà Mercier đang xem.
“Thưa ông thanh tra,” cụ Ba Trình cất giọng đanh thép, từng lời rành rọt như búa gõ đe. “Vào đúng ngày này, áp suất đối lưu tự nhiên tụt mất bảy ly, nhiệt độ vách đá vọt lên năm độ. Đó là thời khắc mà ba hào thông gió phụ nối sang ngách cũ bị cưỡng ép lấp kín bằng đá vỉa. Luồng khí tươi quét sạch đáy lò bị cắt đứt hoàn toàn chỉ vì lòng tham muốn vét kiệt vỉa antraxit nhánh số 3.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…