Thuyền Đuôi Én Xé Sóng Giữ Mạch Lương Rừng
Chương 11: Đỏ Lửa Bến Én
Tiếng hô đanh thép của cụ già làng vừa dứt trên mỏm đá, bến Vạn Én lập tức chuyển mình trong một nhịp điệu rộn rã chưa từng thấy. Hàng trăm bó đuốc nứa đồng loạt bén lửa, xua tan màn sương chiều bảng lảng đang sà xuống khúc quanh sông Mã. Đêm buông xuống non cao nhanh như chớp mắt, nhưng cả dải bờ sông rực lên một vầng hồng thắm đượm, soi rõ từng khuôn mặt rắn rỏi của quân và dân.
Hơn một trăm binh sĩ triều đình cùng toàn thể trai tráng bản Chiềng Lương lập tức tản ra các lán mộc trải dài ven bãi cát. Tù và nứa rúc lên từng hồi giục giã, tiếng bước chân rầm rập hòa cùng tiếng hò reo vang dội vách núi Ma Pha Luông. Tất cả đều hiểu rằng, sau chiếc thuyền tiên phong vừa hạ thủy thành công, hai mươi chín chiếc thuyền đuôi én còn lại phải được hoàn thành trước khi con nước dữ nhất ập xuống.
Cụ Cầm Văn Bão bước chậm rãi xuống khỏi mỏm đá cao. Ở tuổi một trăm sáu mươi sáu, đôi chân khẳng khiu của cụ vẫn bám chắc vào nền đá sỏi trơn trượt như rễ nghiến ngàn năm cắm sâu vào lòng khe. Chiếc áo chàm đượm mùi khói bếp bay phần phật trong gió bấc, đôi mắt cụ sáng quắc, bao quát khắp lượt từng lán thợ đang đỏ lửa.
Tại lán mộc thứ ba, mấy người lính trẻ của Trần Nhật Du đang lúng túng vung chàng đục ghè những mấu cật trên một thân bương đá dài hơn bốn trượng. Thớ bương sau hai mươi mốt ngày đêm vùi dưới bùn khoáng nóng trở nên dẻo quánh khác thường; lưỡi đục chạm vào cứ trượt đi trầy trật, làm xơ xước lớp cật ngoài bóng loáng.
Cụ Bão dừng bước bên cạnh, mỉm cười hiền từ rồi đưa bàn tay gân guốc đón lấy chiếc vồ gỗ và lưỡi đục từ tay một người lính: — Chư quân chớ nóng vội! Bương đá ngâm nước suối nóng đã tiêu biến hết cùi xốp, chỉ còn lại lớp xơ dai như gân trâu mộng. Nếu chư quân cứ dồn sức búa đập thẳng góc lưỡi đục vào tim mấu như đẽo gỗ lim dưới xuôi, thớ bương sẽ bật lại làm mẻ lưỡi thép.
Vừa nói, cụ vừa ghé sát người xuống thân bương, ngón tay cụ sờ nhẹ lên từng đường xơ dẻo để đón chiều sợi: — Phải nghiêng lưỡi chàng ba phân, nương theo đường lượn tự nhiên của thớ cật mà miết nhẹ. Mấu bương cứng, nhưng tay người mềm dẻo thì gỗ đá nào cũng phải thuận theo.
Cụ Bão đưa tay đẩy nhẹ một đường dứt khoát. Tiếng “roọc” giòn tan vang lên, mấu bương cứng đầu lập tức rơi xuống đất gọn gàng, để lại một mặt phẳng nhẵn thín như vừa được mài giũa.
Mấy người lính triều đình trố mắt nhìn nhau, đồng thanh dạ ran thán phục: — Đa tạ Cụ già làng chỉ dạy! Thật đúng là bách nghệ phi thường!
Cụ gật đầu, vỗ vai từng người lính trẻ rồi chống gậy rảo bước sang khu vực xâu ghép mạn thuyền. Tại đây, rễ móc rừng đã luộc kỹ bảy ngày bảy đêm trong nồi vỏ chát tỏa ra mùi thơm ngai ngái nồng đượm. Cụ Bão đích thân cúi xuống, tận tay hướng dẫn các toán thợ cách luồn sợi rễ móc tao ba qua những lỗ đục chéo góc trên thân bương. Từng nút thắt được thắt theo lối nẹp bướm gia truyền của người Thái đen, siết chặt các nan bương lại với nhau thành một khối lườn thuyền cong vút mà vẫn có độ co giãn tuyệt hảo khi chạm sóng.
Cách đó không xa, chảo gang lớn đang sôi sùng sục thứ nhựa chai rừng đặc quánh trộn lẫn dầu trẩu và bột than củi mịn. Cụ Bão dặn dò các thiếu nữ đang khuấy chảo: — Nhựa chai phải quấy đều tay trên than hồng âm ỉ. Khi miết vào khe nối giữa các nan bương, phải dùng thanh tre cật miết thật chặt lúc nhựa còn ấm nóng. Nhựa ngấm vào kẽ rễ móc sẽ nở ra, đông cứng như đá tảng, dẫu sóng dữ thác Kẻo có xô mạnh đến đâu cũng không thể lọt một giọt nước vào làm ướt thóc muối của triều đình.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…