Tiếng Gõ Thước Kẹp Nơi Bến Thuyền Mục
Chương 18: Nhịp Gõ Định Vị
Gió bấc rít gào bên ngoài khe hở boong sắt, cuốn theo từng đợt sóng đập sầm sập vào mạn sà lan như muốn bẻ gãy từng mối hàn đã rệu rã. Nước sông Trà Lý lạnh ngắt luồn qua khe nứt, dâng lấp xấp ngang bắp chân gầy guộc của Toàn, bốc lên mùi bùn ngấu và dầu cặn tanh nồng.
Toàn nén cơn run rẩy, gập cong những ngón tay sứt sẹo bám chặt lấy thanh thước kẹp gỗ ổi. Mặt kim loại của vách ngăn trước mắt phủ một lớp gỉ xù xì, buốt lạnh như đá ngâm đáy sông mùa rét. Toàn ghé sát tai vào sống dầm thép chịu lực—nơi cắm sâu nhất dưới đáy lườn tàu, nơi tiếp giáp thẳng với dòng xoáy ngầm cuộn xiết bên ngoài.
Trong đầu cậu bé tám tuổi, giọng nói trầm ấm của người cha năm xưa hòa cùng lời dặn dò khàn đục của ông nội bên bếp lửa xưởng mộc bỗng vang vọng rõ mồn một: “Cây thước kẹp không chỉ để đo thớ gỗ. Khi dòng nước nuốt chửng mắt nhìn, nhịp gõ chính là tiếng lòng người thợ mộc gọi nhau.”
Toàn hít một hơi sâu, vung đầu chiếc thước kẹp gỗ ổi đập dứt khoát vào sống dầm sắt:
Cắc... cắc... tùng... cắc!
Tiếng “cắc” đanh gọn phát ra từ đầu gỗ ổi già tẩm dầu trẩu va vào thép tôi. Tiếng “tùng” trầm đục rung lên khi cậu thúc sống thước vào khoảng rỗng giữa hai thanh gia cố. Nhịp gõ mộc truyền thống mà cha từng dạy cậu gõ trên cột lim bến Mộc lúc này như một mạch sống kiên cường, xuyên qua lớp vỏ tàu rỉ sét, xé toạc làn nước đục ngầu cuồn cuộn.
Cắc... cắc... tùng... cắc!
Toàn cắn chặt môi, đếm từng nhịp thở ngắt quãng. Cậu dùng hết sức bình sinh của hai cánh tay nhỏ bé, gõ đều đặn theo quy ước ba nhịp đanh, một nhịp trầm. Âm thanh kim loại không tan biến trong khoang hầm ngột ngạt mà dội ngược thành những vòng sóng âm tần số cao, men theo lườn thép ngập sâu dưới nước phóng thẳng ra ngoài luồng lạch. Từng đợt sóng âm bền bỉ rẽ nước, lách qua những xác thuyền mục thời bao cấp, men theo rãnh đáy sông sâu hướng về phía rặng bần xóm Bãi.
* * *
Cùng lúc ấy, tại doi đất trũng mép xưởng mộc bến Mộc, mưa bão số bảy đang trút xuống như thác đổ. Nước sông đỏ quạch phù sa dâng ngập quá đầu gối, chồm lên nuốt trọn những phôi cọc tiêu vừa cắm ban chiều.
Ông Tạ Bá Khiêm đầu trần, ướt sũng trong chiếc áo nâu rách bươm, hai mắt đỏ ngầu hoang dại nhìn ra luồng nước mù mịt. Cơn sốt rét rừng vừa tạm lui, để lại trên gương mặt quắt queo của ông những vệt gân tím ngắt run rẩy. Trên tay ông là mái chèo gỗ sến đã mòn vẹt. Ông dồn chút tàn lực cuối cùng toan đẩy chiếc thuyền nan mỏng manh lao thẳng ra dòng nước lũ đang cuộn xoáy trôn ốc.
“Buông ra! Để tôi đi... Thằng Lợi nó giết cháu tôi mất!” Ông Khiêm gào lên trong tiếng sấm rền, giọng nghẹn lại như muốn vỡ ra từng mảnh. “Năm năm trước tôi mất thằng Thịnh... Giờ tôi không thể mất cu Toàn!”
“Bác Khiêm! Bình tĩnh nghe cháu!”
Một bàn tay rắn rỏi như gọng kìm bất ngờ chộp lấy vai ông, ghì chặt thân hình già nua lảo đảo lại. Thượng úy Đặng Văn Vũ xuất hiện, toàn thân sũng nước mưa, bộ thường phục dã chiến dính bết vào ngực áo. Đôi mắt sắc bén của người chiến sĩ đường thủy bừng sáng dưới ánh chớp rạch ngang trời. Chú ghé sát tai ông lão thợ mộc, nói rành rọt từng tiếng át cả tiếng gió gầm:
“Bác nhìn ngoài kia xem! Gió giật cấp mười một, thuyền nan ra tới lạch là lật ngay! Hai chiếc ca nô của trạm đã ém sẵn ở rặng bần phía tây, chúng cháu tuyệt đối không để thằng Lợi làm hại cháu Toàn. Bác phải tin cháu!”
Ông Khiêm quỵ xuống mép bùn lầy, hai bàn tay thô ráp ôm chặt lấy ngực áo, nước mắt hòa lẫn nước mưa tuôn trào: “Thằng Lợi nó ác lắm chú Vũ ơi... Nó bắt thằng bé ra Vực Đụn làm bia đỡ...”
Lời ông lão chưa dứt thì từ lùm bần rậm rạp cách đó vài chục mét, người chiến sĩ trinh sát trẻ tuổi trên chiếc ca nô cứu hộ mật phục đột ngột giật thót mình. Cậu ta ấn chặt hai bên ốp tai nghe của thiết bị định âm dưới nước, mắt mở to kinh ngạc.
Giữa mớ tạp âm hỗn loạn của tiếng chân vịt tàu cát, tiếng sóng đập ầm ào và tiếng đá sỏi va xiết dưới đáy nước, một chuỗi tín hiệu kim loại kỳ lạ bỗng lọt vào màng thu. Âm thanh không hề ngẫu nhiên mà ngắt nghỉ nhịp nhàng, sắc lẹm và chuẩn xác đến từng phần mười giây:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…