Tiếng Gõ Thước Kẹp Nơi Bến Thuyền Mục
Chương 21: Định Âm Đáy Vực
Luồng sáng vàng từ ngọn đèn pha rọi thủng màn sương xám, cắm một cột trụ chói lòa xuống lòng Vực Đụn. Đôi tai Toàn vẫn dán chặt vào từng xung động vi tế truyền qua lớp kim loại thành xuồng, níu lấy nhịp rung thanh thoát vừa vọng lên từ cõi nước sâu thẳm. Cậu ngước nhìn ông nội, đôi môi nhỏ mấp máy như muốn nói, nhưng thấy bàn tay già nua của ông đang run lên từng chặp vì ngấm lạnh, Toàn lại nép sát vào ngực ông, lặng lẽ truyền hơi ấm từ chiếc áo khoác của chú Vũ sang manh áo nâu ướt sũng.
Trời hửng sáng dần sau cơn bão dữ. Màn mây đen kịt bị gió thổi bạt về phía cửa biển, trả lại cho dòng Trà Lý một khoảng trời ửng hồng màu rạng đông. Mặt nước Vực Đụn từ từ phẳng lặng, không còn những cơn sóng chồm bờ hung hãn, nhưng lớp sương mù bảng lảng và hơi lạnh buốt giá từ đáy sông vẫn bốc lên nghi ngút, phả vào da thịt cảm giác tê cóng. Toàn đứng ở mũi ca nô, hai bàn tay nhỏ bé ghì chặt lấy cây thước kẹp bằng gỗ ổi. Mặt gỗ ổi ngậm dầu trẩu nâu bóng vẫn rung lên nhè nhẹ theo nhịp nước ròng, tựa như một trái tim đang đập cùng nhịp thở của dòng sông.
Tiếng còi tàu trầm vang xé toạc màn sương sớm. Một chiếc tàu công vụ cỡ lớn mang phù hiệu Cảnh sát đường thủy rẽ sóng tiến lại, cặp sát mạn cụm ca nô đang chốt giữ hiện trường. Trên boong, đội thợ lặn chuyên nghiệp của Công an tỉnh trong bộ đồ cao su đen tuyền cùng bình dưỡng khí chuyên dụng đã sẵn sàng bước vào vị trí chiến đấu.
Thượng úy Đặng Văn Vũ bước sang tàu lớn, cẩn thận đỡ ông Khiêm và dắt Toàn cùng bước vào cabin chỉ huy. Trải tấm hải đồ lạch sông lên mặt bàn inox, chú Vũ chỉ tay vào vùng nước xoáy có đánh dấu chữ thập đỏ, cất giọng nghiêm nghị:
“Bác Khiêm, hiện tại mặt sông đã êm, nhưng bên dưới Vực Đụn lúc này phù sa sau bão cuộn rất mạnh. Đội thợ lặn cần xác định chuẩn xác tọa độ của xác thuyền buồm năm 1945 để tránh luồng ngầm cuốn vào các mỏm đá ngầm.”
Ông Khiêm tỳ hai bàn tay nứt nẻ lên mép bàn, đôi mắt kèm nhèm nheo lại nhìn từng dòng kẻ:
“Vực Đụn có hai luồng xoáy trôn ốc ngược chiều nhau, một luồng từ họng cống ngầm xả ra, một luồng từ doi cát đánh vào. Xác thuyền buồm ba vòm chìm chếch về hướng đông bắc chừng mười sải tay, nằm lọt thỏm giữa hai gọng kìm đá tai mèo. Mạn thuyền vùi sâu dưới ba thước bùn, chỉ còn cột buồm gãy và miệng hầm hàng là nhô lên.”
Đúng lúc đó, đồng chí tổ trưởng thợ lặn bước vào, vẻ mặt đầy âu lo:
“Báo cáo Thượng úy, chúng tôi vừa thả đầu dò thủy âm xuống tầng đáy, nhưng bùn cát sau bão bị chân vịt tàu cát tặc sục xạo dữ quá, tạo thành lớp bùn lơ lửng dày đặc. Tạp âm dội ngược về máy chỉ rặt tiếng rào rào của cát trôi, không thể phân biệt nổi đâu là vách đá, đâu là mạn gỗ mục.”
Nghe vậy, lòng Toàn thắt lại. Cậu nhớ đến những đêm dài ngồi bên đống phoi bào nghe ông nội giảng giải về thuật lặn của người thợ sông bến Mộc. Bàn tay cậu siết chặt lấy chiếc thước gỗ ổi trong túi áo, bước tới bên cạnh chú Vũ, ngước đôi mắt trong veo quả quyết:
“Chú Vũ, ông nội ơi! Để cháu định âm cho!”
Thượng úy Vũ ngạc nhiên cúi nhìn Toàn, còn ông Khiêm thì giật mình níu lấy vai cháu:
“Cu Toàn, dưới vực nước sâu và lạnh lắm…”
“Cháu không nhảy xuống nước đâu ông!” Toàn lắc đầu, giọng chắc nịch. “Ông dạy cháu rồi, máy móc kim loại bắt tạp âm cát trôi, nhưng thớ gỗ chỉ bắt tiếng gỗ. Mình cắm sào tre ngâm chạm xuống đáy, rồi kẹp thước gỗ ổi vào đầu sào. Đáy nước thở thế nào, thớ ổi sẽ nói cho cháu biết!”
Nhìn ánh mắt kiên định phi thường của đứa trẻ tám tuổi, rồi nhìn vết trầy xước trên những ngón tay nhỏ bé đã can trường gõ từng nhịp cầu cứu đêm qua, Thượng úy Vũ khẽ gật đầu:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…