Tiếng Gõ Thước Kẹp Nơi Bến Thuyền Mục
Chương 7: Chiếc Hòm Khóa Cũ Trong Gian Mộc
Thượng úy Đặng Văn Vũ hơi cúi thấp người, bàn tay rắn rỏi khẽ đỡ lấy vai Toàn. Anh đưa mắt nhìn chiếc thước kẹp bằng gỗ ổi già tẩm dầu trẩu trong tay cậu bé, nét mặt nghiêm nghị ban nãy giãn ra, ánh lên vẻ ngạc nhiên pha lẫn thấu hiểu. Chú Vũ xoa nhẹ chỏm tóc mai lấm tấm mạt cưa của Toàn, khẽ gật đầu khen ngợi:
“Cháu quan sát và nghe ngóng giỏi lắm, cu Toàn. Đôi tai của cháu rất thính, phát hiện ra tiếng máy nổ ngầm là giúp các chú một manh mối cực kỳ quan trọng đấy.”
Toàn ngước lên, lồng ngực nhỏ phập phồng nhẹ nhõm. Ánh mắt ấm áp của người chiến sĩ công an như sưởi ấm nỗi sợ hãi còn sót lại sau đêm suýt chìm ngoài bãi thuyền mục. Chú Vũ quay sang nhìn ông Khiêm, giọng dứt khoát dặn dò:
“Bác Khiêm và cháu Toàn nhớ kỹ lời cháu, tuyệt đối không được tự ý lội ra bãi xác thuyền lúc chập tối hay nửa đêm nữa. Bọn chúng có máy móc cơ khí và lặn ngầm rất nguy hiểm. Nếu hai ông cháu phát hiện bất cứ tiếng động lạ hay bóng tàu thuyền nào khả nghi ngoài luồng lạch, phải báo ngay cho trạm tuần tra đường thủy hoặc điện thẳng cho cháu, rõ chưa?”
“Vâng, tôi nhớ rồi. Đội ơn chú và anh em đã sang kịp thời giải vây cho xóm bãi.” Ông Khiêm run run chắp tay, giọng khàn đặc vì cơn sốt rét rừng vừa tạm lui.
Sau khi chú Vũ dẫn các chiến sĩ kiểm ngư xuống ca nô, tiếng máy nổ rẽ sóng rời bến, bà con chòm xóm cũng lục tục giải tán. Đám mây mù hoang mang về con “quỷ da trôi” tạm thời bị xua tan, nhường chỗ cho nỗi căm phẫn âm ỉ hướng về đám cát tặc lén lút rải phẩm màu đầu độc dòng sông.
Trưa hôm ấy, nắng hanh vàng vọt rọi xuống mép sân xưởng mộc, hong khô dần những mảng bùn non còn đọng lại sau trận nước dâng. Đợt lũ đã rút bớt một gang tay, để lại mùi rêu ẩm và mùi gỗ ngâm nồng nặc khắp gian xưởng. Ông Khiêm tuy dứt cơn rét nhưng người vẫn còn bải hoải, ngồi trên chiếc ghế mây đan cặm cụi mài lại mấy lưỡi bào rỉ sét.
Toàn cầm chiếc chổi đót nhỏ, chăm chỉ phụ ông quét dọn đống mùn cưa và phoi bào ở góc xưởng bị nước lũ liếm vào bết dính. Cậu bé gạt từng lớp mùn ẩm nặng trịch dồn vào sọt tre. Khi cúi thấp người luồn chổi sâu vào dưới gầm chiếc phản gỗ lim sẫm màu—nơi ông Khiêm vẫn nằm nghỉ trưa—đầu cán chổi bỗng vấp phải một vật nặng kêu cộc một tiếng đanh gọn.
Toàn tò mò quỳ rạp xuống sàn đất, ghé mắt nhìn vào khoảng tối dưới gầm phản.
Ẩn sâu trong góc tường sát chân cột cái là một chiếc rương gỗ lim cũ kỹ, góc bọc sắt đã hoen gỉ màu da đồng. Lớp bụi thời gian cùng mạng nhện phủ dày trên nắp hòm, dường như đã nhiều năm trời không hề có bàn tay người lay động. Trên then khóa đồng cài ngang, một ổ khóa bấm loại cổ điển nằm im lìm, nhưng chốt khóa chỉ gài hờ chứ không bấm chặt.
Tim Toàn bỗng đập thình thịch từng nhịp rộn rã nơi lồng ngực. Cậu bé nhớ mang máng chiếc rương này. Hồi Toàn mới lên ba, trước cái đêm định mệnh cha chèo thuyền ra Vực Đụn rồi biệt tích, cha từng ngồi trước chiếc rương này rất lâu.
Toàn đứng dậy, hai tay phủi vội vạt áo bà ba dính mùn, ngập ngừng bước lại gần chiếc ghế mây:
“Ông ơi... Dưới gầm phản có chiếc rương gỗ lim của cha. Cháu... cháu kéo ra lau bụi được không ông?”
Bàn tay đang đẩy lưỡi mài trên mặt đá của ông Khiêm khựng lại. Ánh mắt già nua thoáng lay động, nhìn xoáy vào đứa cháu nội gầy gò với đôi mắt to tròn đen láy đang chan chứa niềm mong mỏi. Một tiếng thở dài khe khẽ trượt qua kẽ răng thưa, ông buông hòn đá mài xuống chậu nước, chậm rãi gật đầu:
“Ừ, lôi ra đi cháu. Đồ của cha Thịnh để lại đấy. Nước lũ mấp mé chân phản thế này, để ẩm mốc hỏng hết kỷ vật của người nằm xuống.”
Được sự đồng ý của ông, Toàn hối hả chạy lại gầm phản. Cậu bé cẩn thận dùng hai tay kéo chiếc rương nặng trịch ra giữa gian mộc. Chiếc hòm gỗ lim tuy đã sạm cũ nhưng chất gỗ vẫn đanh chắc, tỏa ra mùi tinh dầu gỗ tự nhiên quyện với mùi ẩm mốc của thời gian. Toàn lấy giẻ khô nhẹ nhàng lau sạch từng lớp bụi bặm bám trên then khóa và mặt ván, lòng tràn ngập cảm giác thiêng liêng như đang chạm vào hơi ấm bàn tay của cha năm nào.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…