Tiếng Tích Tắc Góc Phố Rung Chuông Hạnh Phúc
Chương 15: Ngọn Đèn Tầng Hai
Gió đêm se lạnh lùa qua lan can sắt hoen gỉ dọc hành lang tầng hai, mang theo tiếng xe máy gầm rú xé toang bóng đêm dưới vòm lá xà cừ. Đứng tựa vào thành ban công phòng 204, Hoàng Minh siết chặt tay lên thanh sắt lạnh ngắt. Từ trên cao, anh vừa tận mắt chứng kiến Bùi Trọng Bách lớn tiếng đe dọa bố con anh Phong dưới chân cầu thang nhà A2. Ánh điện ki-ốt 101 khi nãy soi rõ cảnh bé Thảo Nhi run rẩy bưng chén nước vối nhỏ xíu ra mời, rồi cảnh anh Phong quỳ sụp ôm chặt đứa con gái nhỏ vào lòng giữa nền xi măng lạnh buốt sau khi gã chủ nhà phóng xe đi mất.
Lồng ngực chàng kỹ sư hai mươi bảy tuổi quặn thắt nỗi bất bình. Suốt năm năm trời, Minh từng sống như cái bóng vật vờ vì chứng mất ngủ kinh niên. Chính đôi bàn tay nhẫn nại của anh Phong đã phục hồi chiếc đồng hồ báo thức cơ mạ đồng của người ông quá cố, và nụ cười trong trẻo của bé Thảo Nhi đã mang lại cho anh giấc ngủ sâu trọn vẹn suốt tám tiếng đồng hồ. Ơn nghĩa cứu vãn tâm hồn ấy, Minh khắc cốt ghi tâm. Anh không thể khoanh tay đứng nhìn chốn nương thân của hai cha con bị ngang ngược phá dỡ.
Dưới sân, bóng dáng bác Đặng Thắng tổ trưởng vội vã rảo bước sang, tay phe phẩy chiếc quạt nan bộ đội. Cửa sắt tầng một khẽ mở, chị Bích Duyên quàng vội khăn mỏng bước ra, cùng lúc tiếng gậy mây lộc cộc của bà giáo Nhàn từ cầu thang tầng ba chậm rãi đi xuống. Minh xỏ dép, thoăn thoắt bước qua từng bậc đá mài sứt mẻ xuống sân chung.
Bốn người tụ lại quanh ghế đá dưới bóng xà cừ, cách cửa ki-ốt 101 một đoạn vừa đủ để lời bàn bạc không làm kinh động giấc ngủ của bé Thảo Nhi. Bên trong ki-ốt, ánh đèn bàn thợ đã vặn mờ, Văn Phong vẫn ngồi cúi gập lặng lẽ bên chiếc giường gấp nhỏ.
“Thằng Bách vừa sang ép dỡ ki-ốt đấy à các bác?” Chị Duyên xót xa, mắt đỏ hoe vì giận dữ. “Tờ thông báo ghi rõ sáu mươi ngày, sao bây giờ nó lại lật lọng ép bố con anh Phong dọn đi ngay cuối tuần này? Mấy hôm nữa lấy đâu ra chỗ che mưa che nắng cho con bé Nhi!”
Bác Thắng gõ nhẹ sống quạt nan xuống bàn đá, giọng trầm đục:
“Bên giải khát đòi nhận mặt bằng sớm, sẵn sàng trả cọc gấp đôi nên nó bất chấp tất cả. Chiều nay tôi lên phường hỏi lại, nhưng giấy tờ thừa kế của nó hợp pháp rành rành, chính quyền chỉ có thể hòa giải chứ không có quyền ngăn cản việc thu hồi tài sản cá nhân.”
“Chẳng lẽ chúng ta cứ trơ mắt nhìn nó dỡ nát ki-ốt hay sao bác Thắng?” Minh bức xúc lên tiếng. “Anh Phong có làm gì sai đâu? Ki-ốt này là nhịp đập gìn giữ linh hồn của cả khu nhà A2 mình mà!”
Bà giáo Nhàn khẽ thở dài, tay run run đặt lên đầu gậy mây. Ánh mắt sau cặp kính lão đồi mồi đượm nỗi buồn sâu thẳm:
“Các cháu bình tĩnh đã. Thằng Bách cư xử cạn tình như vậy, một phần cũng bởi vết thương lòng quá lớn từ thuở ấu thơ.”
Thấy Minh ngạc nhiên, bà Nhàn chậm rãi kể, giọng Hà Nội xưa nhẹ nhàng nhưng trĩu nặng ký ức:
“Bố thằng Bách ngày trước là công nhân bậc cao của xưởng cơ khí, từng sống ngay tại dãy nhà này. Ông ấy hiền lành, chịu thương chịu khó lắm, nhưng số phận nghiệt ngã. Gia đình nghèo túng triền miên, đến khi ông ấy mắc bạo bệnh nằm liệt giường thì trong nhà chẳng còn lấy một đồng mua thuốc thang. Đúng năm thằng Bách thi đỗ đại học, người cha kiệt sức rồi qua đời trong cảnh bần hàn, cơ cực. Mẹ con nó phải bán xới căn phòng cũ để trả nợ rồi dắt díu nhau đi nơi khác.”
Bà giáo ngừng lại một nhịp, nhìn về vách tường vôi ố vàng của ki-ốt:
“Cái nghèo và sự bất lực ngày bố mất đã biến thành nỗi mặc cảm cay đắng trong lòng thằng bé. Nó lớn lên với ý nghĩ rằng chỉ có tiền bạc và sự lạnh lùng mới giúp nó không bị cuộc đời chà đạp. Nó muốn san phẳng tất cả để kiếm tiền thật nhanh, cốt chứng minh bản thân không còn là đứa trẻ rách rưới năm nào. Nó đáng trách, nhưng cũng thật đáng thương.”
Bác Thắng thở dài tán đồng:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…