Tiếng Vọng Rỗng Trong Lòng Đất Mù

Chương 2: Chuông Không Quả Lắc

Tôi nín thở, bàn tay siết chặt lấy núm khuếch đại trên máy Sound Devices, vặn ngược chiều kim đồng hồ để hạ mức tín hiệu. Thanh hiển thị tín hiệu vẫn co giật từng vệt đỏ lòm ở dải hạ âm 18 Hertz. Lớp gỗ sa mộc dưới chân tôi rung lên từng chặp tê dại, tựa như một dòng điện âm ỉ chạy dọc từ sống lưng lên tận cuống họng. Cảm giác buồn nôn quen thuộc ập đến, lồng ngực thắt lại như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Tôi phải giật phăng chụp tai nghe ra khỏi đầu, tựa lưng vào cột nhà thở dốc.

Bên ngoài song cửa, bóng tối của thung lũng đặc quánh như mực tàu. Sự rung chuyển ngầm kéo dài thêm chừng nửa phút rồi từ từ lắng xuống, trả lại cho gian nhà sàn bầu không khí tĩnh mịch rợn người. Đêm đó, tôi thức trắng, hai mắt trừng trừng nhìn lên những thanh xà gồ đen sẫm, bên tai văng vẳng dư chấn của một luồng xung lực mù mịt vừa trồi lên từ đáy sâu lòng đất.

Sáng sớm hôm sau, sương mù buốt giá ùa vào thung lũng bản Ro, quánh đặc như sữa đông. Màn sương dày đến mức tầm nhìn chưa đầy ba mét, nuốt chửng những rặng sa mu cổ thụ và làm ẩm ướt từng thớ gỗ xám xịt của nếp nhà sàn.

Đúng sáu giờ, tiếng gõ cửa dồn dập vang lên. Vàng A Páo đứng nép bên bậc cầu thang, chiếc áo chàm đẫm sương đêm, thắt lưng vẫn lủng lẳng con dao quắm. Khuôn mặt rắn rỏi của gã thợ săn lộ rõ vẻ bồn chồn, ánh mắt đảo quanh mảnh sân mờ mịt sương khói như thể lo sợ ai đó đang rình rập.

– Anh Hoàng, chị Ngân, đi thôi. Giờ này cụ Khun mới mở lò, lát nữa người trong bản kéo đến xin bùa thì cụ không tiếp khách lạ đâu, – A Páo hạ giọng thì thào, hơi thở phả ra thành từng luồng khói trắng.

Chúng tôi rảo bước theo A Páo qua những con dốc đá lởm chởm trơn trượt. Bản Ro buổi sớm lặng lẽ đến kỳ quặc, không một tiếng gà gáy hay tiếng người gọi nhau lên nương, chỉ có tiếng bước chân chúng tôi giẫm lạo xạo trên đá dăm. Đi đến cuối bản, men theo chân vách đá vôi karst sừng sững, mùi than củi nồng nặc quyện với mùi lưu huỳnh và xỉ kim loại khen khét bắt đầu xộc thẳng vào cánh mũi.

Xưởng đúc đồng của cụ Lò Văn Khun là một căn lán lợp ngói âm dương xập xệ, nép mình sát một hốc đá karst khoét sâu vào lòng núi. Trong khoảng sân đất nện ngổn ngang những ụ xỉ than xám xịt, nồi nấu đồng bằng đất nung vỡ vụn và những bộ khuôn đúc bằng bùn trộn rơm khô đã nứt nẻ.

Giữa lán, một đống than hồng đang âm ỉ cháy, hắt ánh đỏ chập chờn lên dáng hình còng gập của một ông lão. Cụ Lò Văn Khun chừng bảy mươi hai tuổi, mái tóc bạc trắng búi gọn sau gáy, lưng còng rạp xuống như một thân cây cổ thụ oằn mình trước bão gió. Đôi mắt cụ phủ một lớp màng đục mờ vì hàng chục năm tiếp xúc với khói lò và bụi kim loại nặng. Trên tay cụ là một chiếc búa sắt nhỏ, đang gõ từng nhát đều đặn, nhịp nhàng lên một khối kim loại sần sùi đặt trên đe đá.

“Keng… cạch… keng…”

Âm thanh kim loại va đập không hề thanh thoát mà trầm đục, nghèn nghẹn như bị bóp nghẹt trong không gian ẩm ướt của vách đá. Khi chúng tôi bước vào lán, nhát búa của cụ khựng lại giữa chừng. Đôi mắt đục mờ của cụ từ từ quét qua chúng tôi, rồi dừng lại, trừng trừng nhìn vào chiếc máy Sound Devices đa kênh và chiếc micro shotgun bọc lông chắn gió đeo trước ngực tôi. Khuôn mặt nhăn nheo của cụ lập tức đanh lại, ánh lên vẻ lạnh nhạt và nghi kỵ tột cùng.

– Mang sắt thép ma quỷ của người dưới xuôi vào đây làm gì? – Cụ Khun cất giọng khàn đặc, từng âm tiết khô khốc cọ vào nhau như đá sỏi va đập dưới suối sâu.

A Páo sợ hãi lùi lại nửa bước, chắp hai tay trước bụng:

– Con lạy cụ… Đây là đoàn cán bộ nghiên cứu dưới xuôi lên, muốn tìm hiểu về nghề đúc chuông của bản ta…

– Già này không có đồ gì để nghiên cứu cả. Đem máy móc đi chỗ khác, – cụ Khun dứt khoát xua tay, toan vung búa gõ tiếp.

Nhận thấy tình thế căng thẳng, Ngân liền bước lên phía trước. Cô nhẹ nhàng cúi đầu chào theo nghi thức cổ truyền của người vùng cao, giọng nói trong trẻo, mềm mỏng nhưng đầy kính cẩn:

– Cháu chào cụ ạ. Chúng cháu từ Viện Dân tộc học lặn lội lên đây, không có ý quấy rầy sự thanh tịnh của cụ. Cháu từng đọc tài liệu của các nhà nghiên cứu tiền bối, biết dòng họ Lò của cụ nắm giữ kỹ thuật luyện kim đồng pha thiếc tuyệt hảo từ sáu đời trước, tạo nên thứ âm vang trầm hùng mà không xưởng đúc nào dưới đồng bằng làm được. Chúng cháu chỉ mong được chiêm ngưỡng tinh hoa tổ truyền của người bản Ro trước khi nó bị mai một thôi ạ.

Những lời chân thành và sự hiểu biết sâu sắc của Ngân dường như đã chạm vào lòng tự tôn của người thợ già. Bàn tay cầm búa của cụ Khun buông lỏng đôi chút. Cụ ngước mắt nhìn Ngân, ánh nhìn bớt phần sắc lạnh nhưng vẫn ngập tràn vẻ u hoài:

– Người dưới xuôi chữ nghĩa nhiều, nhưng hiểu làm sao được cái nghiệp tổ truyền này. Đâu phải cứ đồng tốt, thiếc chuẩn là đúc nên chuyện.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai6
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai6

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…