Tờ Lệnh Truy Đuổi Qua Ba Tỉnh Thành
Chương 13: Khói Bếp Chiều Quê
Nguyệt rảo bước vào con ngõ rợp bóng tre, nhưng câu nói trầm khàn của Gia Hòa bên bờ ruộng vẫn như chiếc gai mềm vướng vít sau lưng: “Anh ở đây. Anh chờ được.” Bàn tay cô đút trong túi áo cánh khẽ siết lấy góc chiếc khăn mùi xoa thêu hoa cánh sen. Mùi hoa bưởi khô phảng phất qua nếp vải, không đủ xua đi nỗi mệt mỏi đã ăn sâu vào xương tủy suốt hơn hai mươi năm, nhưng lại khiến bước chân cô chẳng thể nào dứt khoát như buổi sớm mai rời Vinh.
Gia Hòa ở lại thật. Anh không bỏ về tòa soạn, cũng chẳng chạy theo nài nỉ hay thề thốt những lời hoa mỹ sáo rỗng. Anh cứ lầm lũi ở gian nhà kho ám đầy bồ hóng, ngày ngày làm những việc mà suốt hai mươi ba năm qua Nguyệt chưa từng thấy anh đụng tay tới.
Từ ô cửa sổ con buồng riêng nhìn ra vườn sau, Nguyệt lặng lẽ quan sát chồng. Mấy buổi sớm mai sương mù còn giăng trắng ngọn cau, cô đã nghe tiếng cuốc bổ đều đặn xuống nền đất cằn. Dưới rặng chuối tây, Gia Hòa xắn quần quá gối, để lộ bắp chân gầy gò sạm đen dính đầy bùn xám. Anh cặm cụi nạo từng rãnh mương dẫn nước, gom những tàu lá khô mục chất thành đống rồi dùng xẻng xới tung những gốc chuối cỗi mà hôm trước ông Sửu vừa hạ. Động tác của anh dứt khoát, nhẫn nại, thuần thục đến mức khó tin.
Trong trí nhớ của Nguyệt, Mục Gia Hòa ở căn hộ tập thể bên bờ sông Lam là một người đàn ông vụng về đến thảm hại với việc nhà. Anh có thể đứng hàng giờ trong buồng tối để canh từng giây cho dải phim ngậm thuốc, nhưng bảo anh đun ấm nước hay thổi nồi cơm thì thể nào cũng khê nồng hoặc trào tắt bếp. Bàn tay anh sinh ra dường như chỉ quen nâng niu chiếc máy ảnh Zenit nặng trịch. Vậy mà lúc này, đôi tay ấy đang nắm chặt cán cuốc tre bóng nhẫy mồ hôi, chai sạn và thô ráp, không một lời than vãn.
Ông Sửu vốn ít lời, đi lại trong vườn chỉ khẽ hất cằm hay trỏ cán xẻng sang luống đất khác. Lạ thay, Gia Hòa hiểu ngay mà chẳng cần bố vợ phải cất tiếng gắt gỏng. Những lúc ông Sửu dừng tay tựa vào gốc mít vê mồi thuốc lào, Gia Hòa liền kéo vạt áo nâu lau vội mồ hôi trên trán, thoăn thoắt chạy lại chum sành múc gáo nước mưa dâng tận tay ông, rồi lặng lẽ ngồi bệt xuống bờ cỏ chờ việc tiếp theo. Không có vẻ gì là sốt ruột. Càng không có vẻ gì là một phóng viên ảnh kỳ cựu đang làm bộ làm tịch để lấy lòng người khác.
Buổi tối ở làng Trại Hạ yên tĩnh đến mức nghe rõ tiếng gió lùa qua kẽ liếp và tiếng dế rỉ rả dưới chân móng nhà.
Bên ấm nước chè xanh om vàng sánh bốc khói nghi ngút trên phản gỗ, gian nhà ngoài ấm sực mùi rơm khô. Bà Thoa dạo này trở trời, đôi khớp gối lại sưng nhức, đi đứng cà nhắc. Cơm nước xong xuôi, Nguyệt bưng rổ kim chỉ ra bậu cửa ngồi vá lại chiếc áo gối sờn mép. Cô liếc nhìn vào trong: Gia Hòa đã kéo chiếc ghế đẩu con lại sát mép phản, ngồi xếp bằng dưới đất, hai bàn tay to bè thoa dầu tràm xoa bóp đều đặn lên bắp chân gầy guộc của mẹ vợ.
Đôi bàn tay thô ráp của người thợ ảnh—với vết chai dày cộm nơi ngón trỏ phải vì bấm hàng vạn cú chụp—giờ đây lại miết từng đường gân, nắn từng khớp xương cho bà cụ một cách cẩn trọng và mềm mại lạ lùng. Bà Thoa vừa nhấp ngụm chè đắng vừa thủ thỉ kể chuyện xưa. Bà kể từ trận đói năm Ất Dậu, chuyện chạy giặc qua phà Linh Cảm, đến những chuyện vụn vặt về họ hàng làng xóm mà người trẻ thời nay chẳng mấy ai muốn nghe.
Nguyệt nín thở lắng nghe. Cô chờ đợi một cái cựa mình sốt ruột, một ánh mắt lơ đãng liếc nhìn chiếc đồng hồ trên cổ tay, hay thói quen ngửa cổ tìm góc sáng của Gia Hòa như mọi bận. Nhưng không. Gia Hòa ngồi im phăng phắc, chốc chốc lại gật đầu, thỉnh thoảng hỏi chêm vào một câu mộc mạc đúng chỗ: “Dạ, rồi hồi đó làng mình dời đình đi đâu hả mạ?”, “Bác Cả bên họ ngoại sau này có về lại đất Can Lộc không mạ?”.
Ông Sửu ngồi tựa lưng vào cột cái, tay cầm bát chè xanh, đôi mắt kèm nhem nhìn con rể qua làn khói thuốc lào bảng lảng. Ánh nhìn nghiêm nghị, lạnh lùng như đá tảng suốt mấy ngày qua dường như đã mềm đi đôi phần.
Mũi kim trên tay Nguyệt bỗng chệch đi, đâm nhẹ vào đầu ngón trỏ. Cơn đau nhói buốt khiến cô giật mình, nhưng lồng ngực cô còn nhói buốt hơn.
Hai mươi ba năm. Đây là lần đầu tiên cô chứng kiến Mục Gia Hòa hiện diện trọn vẹn trong một mái ấm gia đình mà không có cái máy ảnh chắn ngang trước mặt.
Suốt hơn hai thập kỷ ở khu tập thể giáo viên Cửa Nam, chiếc máy ảnh Zenit đối với anh giống như một phần thân thể, một bức tường vô hình ngăn cách anh với thế giới thực tại xung quanh. Anh ngồi bên mâm cơm mà mắt nheo nheo đo độ sáng ngoài sân; anh bế con gái Thu Hằng khi nó sốt cao mà đầu óc còn mải tiếc cuộn phim vừa hỏng ngoài tòa soạn. Anh biến cô thành một cái bóng lặng lẽ, một người giữ nhà cho buồng tối tráng phim của anh.
Vậy mà giờ đây, khi chiếc máy ảnh bị tháo khỏi vai nằm im trong góc tối nhà kho, người đàn ông ấy lại ngồi bóp chân cho mẹ vợ, nhẫn nại như một đứa con trai ruột thịt. Bức tường kia rốt cuộc đã hạ xuống, để lộ ra một Mục Gia Hòa chân thật, vụng về và đầy ăn năn.
Nguyệt cúi đầu, cắn đứt sợi chỉ thừa. Nỗi ấm ức chất chứa bấy lâu như tảng băng đóng chặt nơi đáy lòng bỗng nứt ra một vệt dài, rịn ra những giọt xót xa cay đắng. Cô không muốn mềm lòng quá sớm, nhưng sự chân thành không giấu giếm của anh khiến cô hoang mang đến nghẹt thở.
Chiều hôm sau, ráng chiều màu mỡ gà phủ loang lổ trên những mái rạ làng Trại Hạ. Khói bếp nhà ai nhóm sớm quyện vào mùi rơm rạ ẩm ướt bay là là trên mặt ngõ, mang theo hương vị ngai ngái, nồng đượm của làng quê xứ Tĩnh.
Nguyệt ra giếng đất sau hè kéo nước rửa mớ rau khoai chuẩn bị cho bữa tối. Chiếc gàu gỗ nặng trịch, sợi dây thừng ngâm nước lâu ngày trơn tuột khiến đôi bàn tay mảnh khảnh của cô chới với.
Một bàn tay to bè, đen sạm bất ngờ vươn tới, nắm chặt lấy sợi thừng ngay trên tay cô.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…