Tờ Lệnh Truy Đuổi Qua Ba Tỉnh Thành
Chương 17: Dưới Ánh Đèn Dầu
Mùi hoa hồng nhung ngào ngạt lan tỏa trong bóng đêm xứ Huế, lành lạnh và thanh khiết. Nguyệt đứng lặng nơi hiên nhà rường, ngón tay khẽ miết lên những cánh hoa còn ướt đẫm hơi sương. Đã bao nhiêu năm rồi cô mới lại đón nhận một nhành hoa từ tay chồng? Trước mắt cô, Gia Hòa vẫn đứng trân trân, hai bờ vai buông thõng, chiếc áo sơ mi cộc tay dính bết mồ hôi vào lưng. Đôi bàn tay to thô ráp của anh khẽ run rẩy, những kẽ móng vẫn còn ố vàng màu thuốc hiện ảnh. Anh nhìn cô bằng ánh mắt của một đứa trẻ vừa gom hết can đảm nhận lỗi, vừa sợ hãi lại vừa tha thiết mong chờ.
Nguyệt nén tiếng thở dài, không buông một lời oán trách. Nhặt chiếc chổi đót dựng vào góc hiên, cô cắm cành hoa hồng vào chiếc cốc thủy tinh trên bậu cửa sổ. Chị Lan ở gian trong khẽ buông rèm nghỉ sớm, trả lại không gian tĩnh mịch cho gian nhà giữa.
Gió đêm từ sông Hương thổi qua vườn mít và những tán thanh trà, lùa hơi lạnh qua song cửa. Ngọn đèn dầu đặt giữa chiếc bàn tròn bằng gỗ mít tỏa ra vầng sáng vàng ấm áp.
Nguyệt trở vào buồng, mở chiếc vali mây cũ. Chiếc hộp thiếc đựng những cuộn phim âm bản mang theo từ Can Lộc nằm im lìm dưới đáy. Suốt chặng đường vượt đèo Ngang vào đất Thần Kinh, chiếc hộp ấy như một hòn than nóng rẫy trong hành lý. Đêm nay, nhìn bóng lưng gầy guộc của Gia Hòa ngồi khép nép bên mép ghế gỗ, Nguyệt biết mình không thể trốn tránh thêm nữa.
Cô bưng chiếc hộp thiếc ra đặt cộc một tiếng lên mặt bàn, ngay cạnh ngọn đèn dầu và chiếc kính lúp nhỏ vẫn dùng chấm bài. Gia Hòa giật mình ngẩng lên, ánh mắt lộ rõ vẻ sững sờ.
“Anh ngồi lại đây,” Nguyệt cất giọng trầm tĩnh. “Mở hết ra.”
Gia Hòa nuốt khan, run rẩy cậy nắp thiếc đã gỉ mép. Tiếng kim loại lách cách khô khốc. Gần hai mươi cuộn phim nhựa ba mươi lăm ly nằm xếp ngay ngắn, mỗi cuộn đều buộc lỏng bằng một sợi chỉ màu đã bạc thếch.
Nguyệt cầm kính lúp, kéo dải phim đầu tiên ra trước ngọn đèn. Hình ảnh đảo màu hiện lên trên từng ô vuông nhỏ: nền trời màu đen thẫm, còn bóng người mang sắc trắng đục mờ ảo.
Qua thấu kính lúp, Nguyệt nghẹn ngào nhận ra chính mình của hai mươi mốt năm về trước. Đó là mùa thu năm 1968, tại vùng sơ tán ven sông Lam. Một cô giáo trẻ măng mặc áo bà ba sẫm màu, tóc tết hai bên, đang nắn nót từng nét phấn lên tấm bảng gỗ ghép từ mảnh hòm đạn. Phía sau cô, mấy đứa trẻ nhỏ đầu trần chăm chú ngước nhìn.
Nguyệt ngẩng đầu, bờ môi mỏng khẽ run: “Hồi sơ tán ở Thanh Chương... anh chụp lúc nào?”
Gia Hòa cúi nhìn dải phim, giọng khàn đặc: “Hôm đó anh đạp xe từ phà Bến Thủy lên thăm hai mẹ con. Đến nơi thấy em đang dạy học dưới căn hầm chữ A. Nắng chiều rọi vào gáy em, bụi phấn bay lấp lánh như sao. Anh đứng ngoài cửa hầm nhìn hồi lâu, sợ bước vào sẽ làm đàn trẻ hoảng mà em thì phân tâm, nên... anh chỉ biết giơ máy lên bấm.”
Nguyệt lặng đi, ngón tay run run rút cuộn phim thứ hai, rồi thứ ba.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…