Tờ Lệnh Truy Đuổi Qua Ba Tỉnh Thành
Chương 7: Tiếng Gõ Bên Bậu Cửa
Nguyệt tỉnh giấc từ khi sương đêm còn đọng trên tàu chuối ngoài vườn. Suốt đêm qua, cô nằm trằn trọc trên chiếc phản gỗ hẹp trong gian buồng con, hai mắt ráo hoảnh lắng nghe từng cơn gió luồn qua khe liếp. Tiếng then cài cửa ngoài khẽ lách cách, rồi bóng mạ bưng chiếc bát sành bốc khói đi vòng ra phía nhà kho khiến ngực Nguyệt thắt lại một nhịp nhức buốt.
Cô ngồi dậy, bước khẽ đến bên vách đất nứt nẻ, ghé mắt nhìn qua khe liếp hé mở.
Dưới ánh ban mai bàng bạc còn vương sương lạnh, gian nhà kho lợp ngói âm dương hiện ra lờ mờ. Chiếc xe đạp Phượng Hoàng của Gia Hòa dựng nép vào vách nứa, bùn đất đỏ quạch từ con đường thiên lý bám chặt vào nan hoa và chắn bùn, khô cong thành từng vệt nham nhở. Chiếc ba lô bạc màu vắt sau yên đã tháo xuống, để trơ lại khung sắt tróc sơn lỗ chỗ.
Một nỗi bức bối bóp nghẽn lấy cuống họng Nguyệt.
Sao anh lại tìm về tận đây? Sao anh không thể để yên cho cô đi?
Hai mươi ba năm chung sống dưới một mái nhà tập thể, chưa từng có một lần anh cuống quýt đạp xe đi tìm cô như thế. Những ngày cô sốt hầm hập nằm co ro trên giường, anh vẫn mải mê trong buồng tối ở tòa soạn, đợi đến khi thuốc hãm nguội ngắt, dải phim khô cong mới lững thững dắt xe về, buông một câu bâng quơ rồi lại cặm cụi lau ống kính. Thế mà vừa thấy tờ đơn ly hôn đặt trên bàn, anh lại lặn lội đạp hơn sáu mươi cây số đường đất, bám theo từng chuyến xe đò về tận xóm Trại Hạ này.
Sự đeo bám vụng về ấy không làm Nguyệt thấy ấm lòng, mà chỉ khiến quyết tâm dứt áo ra đi của cô bị xáo trộn, biến thành một nỗi bẽ bàng cay đắng. Anh đến đây để làm gì? Để kéo cô về nấu cơm, giặt giũ, làm người trông nhà cho anh tiếp tục đắm chìm vào những khung hình vô tận?
Tiếng bước chân chậm rãi của bà Thoa vang lên ngoài bậu cửa hiên, kéo Nguyệt trở về thực tại. Mạ cô bước vào nhà, tà áo nâu sồng còn đượm mùi tro bếp và sương sớm. Bà kéo chiếc ghế đẩu con lại bên chõng tre, với tay nhấc ấm tích ủ trong giành mây, rót một bát nước chè xanh sóng sánh khói.
“Thằng Hòa dậy rồi,” bà Thoa nói, giọng trầm đục, đôi mắt nhìn sang góc buồng con. “Mạ để bát cháo ngoài bậu cửa kho. Nó thức trắng cả đêm, người ngợm gầy rộc, hai mắt thâm quầng.”
Nguyệt bước ra khỏi buồng, đi tới bên chõng tre nhưng không ngồi xuống. Cô cúi đầu, hai tay đan chặt vào nhau:
“Mạ mặc kệ anh ấy. Hết ngày rồi anh ấy tự khắc phải về tòa soạn.”
Bà Thoa nhấp một ngụm nước chè. Bà ngước nhìn con gái, thở dài:
“Con định trốn trong buồng mãi rứa à? Vợ chồng có chuyện chi thì cũng phải mặt đối mặt mà nói cho rành mạch. Đạp xe từ Vinh vô đây đâu phải chuyện chơi, con đường đất gập ghềnh đá hộc, người trẻ còn bạt cả mặt huống hồ tuổi nó.”
“Con không trốn,” Nguyệt cắn môi, giọng đanh lại nhưng ẩn sâu bên dưới là nỗi run rẩy. “Con đã viết rõ trong tờ đơn rồi. Giữa con với anh ấy chẳng còn chuyện chi để nói nữa. Hai mươi mấy năm qua, con nói chưa đủ nhiều hay răng mạ?”
Bà Thoa lặng im. Bàn tay gầy guộc nổi gân xanh của bà miết nhẹ lên thành bát sành. Nguyệt vốn hiền lành, chịu thương chịu khó từ thuở con gái cho đến ngày làm dâu, làm vợ. Một người phụ nữ cam chịu suốt hơn hai thập kỷ mà nay đã dứt khoát buông tay, nghĩa là nỗi mệt mỏi trong lòng đã ngấm sâu đến mức không gì cứu vãn nổi.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…