Trục Quạt Cũ Mang Gió Mát Qua Con Ngõ Nhỏ
Chương 4: Bạc đồng ngâm dầu
Tờ thông báo cắt điện dán trên tấm gỗ dán đầu ngõ vẫn còn ướt mép keo, nhưng cái bóng lưng vội vã của bác Dân đã khuất sau khúc quanh dẫn ra phố. Dưới gốc bàng, Toàn và Quân đứng chôn chân nhìn nhau, vẻ sững sờ in hằn trên từng vệt mồ hôi chảy dài bên thái dương. Cụ Đôn Khắc Thọ khẽ thở dài, tay vặn nhỏ nấc gió chiếc quạt con cóc rồi chậm rãi bảo hai người trẻ giải tán để lo thu xếp cửa nhà trước khi bóng tối cùng cái nóng ập xuống.
Đêm hôm ấy trôi qua trong ngột ngạt, nhưng nỗi lo âu thực sự chỉ bắt đầu hiện rõ vào sớm hôm sau.
Sáng sớm, khi hơi nóng mặt đường chưa kịp bốc lên từ những phiến đá lát nứt nẻ, khoảng sân chung dưới tán bàng già vẫn giữ lại được chút ẩm mát hiếm hoi của sương đêm. Cụ Đôn thức dậy từ cữ sáng tinh mơ, sau bài tập dưỡng sinh khoan thai, cụ mở chiếc rương tôn xám xịt đặt góc hiên. Từ đáy rương, cụ cẩn thận nâng ra cuốn sổ tay cơ khí cũ kỹ. Bìa sổ bọc vải dù xanh đã ố vàng theo năm tháng, mép giấy sờn gãy từng nếp gấp. Cụ lật từng trang giấy kẻ ô li ngả màu nâu hạt dẻ, ngắm nhìn những nét chữ viết bằng mực Cửu Long nắn nót từ những năm tiếp quản Thủ đô. Trong đó vẽ chi tiết từng mặt cắt ổ trục, dung sai lắp ghép, bảng quy cách bạc đồng thau và bước ren của các dòng mô-tơ quạt điện từ thời kỳ đầu dựng xây khu tập thể Kim Liên.
Tiếng dép lê lẹt xẹt kéo cụ về thực tại. Quân xách theo chiếc ghế đẩu con bước sang, hai bắp tay dính vài vệt dầu máy đen nhánh. Anh ta lặng lẽ ngồi xuống bên mép bàn thợ, ánh mắt chăm chú dõi theo từng trang vẽ cơ khí của người thợ già. Nhìn cụ Đôn nâng niu cuốn sổ, trong mắt Quân dâng lên vẻ cảm phục sâu lắng xen lẫn niềm bùi ngùi. Mười năm trước, khi mới chân ướt chân ráo từ quê lên phố, tính khí ngông nghênh, bốc đồng suýt đẩy Quân vào con đường lầm lạc sau những vụ va chạm dữ dằn nơi bến bãi. Chính cụ Đôn đã giang tay đón anh về, cho nương náu dưới mái hiên tập thể, kiên nhẫn cầm tay chỉ cho từng đường cờ lê, con ốc và dạy anh bài học đầu tiên về đạo làm thợ: muốn máy chạy êm thì tay phải sạch, tâm phải phẳng.
Cụ Đôn đặt một vòng bạc đồng thau nhỏ bằng đốt ngón tay lên mặt bàn gỗ, khẽ ngẩng đầu nhìn người học trò năm nào:
— Chú mày nhìn cho kỹ. Sửa quạt điện hay sửa xe máy, cái gốc nằm ở chỗ biết lắng nghe độ rơ của cốt máy.
Cụ lồng trục thép vào lòng bạc đồng, dùng đầu ngón tay cái và ngón trỏ lắc nhẹ sang hai phía. Một tiếng lách cách siêu nhỏ vang lên, nhẹ như tiếng cánh muỗi đập vào màn.
— Độ rơ lắc dọc trục thì có thể chêm thêm long-đền phíp, nhưng rơ ngang thế này tức là bạc đã mòn vẹt. Chú mày muốn nó bền bỉ hai, ba chục năm mà không bao giờ bị bó kẹt rotor thì đừng chỉ biết nhỏ vội giọt nhớt cặn vào như cánh thợ ẩu ngoài chợ. Bí quyết của xưởng cơ khí ngày xưa là phải tôi bạc đồng trong dầu nóng. Đun sôi dầu máy trắng lên, thả cục bạc đồng xốp vào ngâm ngập vài tiếng đồng hồ. Kim loại giãn nở, từng mao dẫn li ti trong thớ đồng thau sẽ hút no dầu nhớt. Khi quạt chạy nóng lên, dầu từ lòng bạc tự khắc ứa ra bôi trơn cốt trục, nguội lại thì co rút hút ngược trở vào. Cái đạo dưỡng máy nó tinh vi ở chỗ đó, bền bỉ từ bên trong chứ không phải lớp váng bóng bẩy bôi ngoài mặt.
Quân gật gù, ánh mắt sáng lên niềm thán phục. Anh cầm lấy vòng bạc đồng mát lạnh, miết nhẹ ngón tay thô ráp lên bề mặt kim loại nhẵn thín.
Bóng nắng bắt đầu xiên qua kẽ lá bàng, rọi xuống bậc thềm tầng một. Tiếng bước chân nhẹ bẫng cùng tiếng thở dài mệt nhọc vang lên. Chị Mai bế bé Tí Nị bước xuống sân, dáng người mảnh khảnh liêu xiêu dưới ánh ban mai đang dần gay gắt. Khuôn mặt người mẹ trẻ xanh xao vì mất ngủ, hai mắt thâm quầng. Đứa bé trên tay chị chỉ mặc chiếc áo cộc mỏng manh, cả tấm lưng và vòm ngực non nớt đỏ lựng những nốt rôm sảy li ti ken đặc, đôi môi khô nứt khẽ hé ra thở từng nhịp dốc yếu ớt.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…