Trục Tre Xoay Dẫn Mạch Sông Ngàn
Chương 13: Quan Huyện Vi Hành
Bụi cuốn mù mịt nơi rặng phi lao tan dần vào ráng sớm, nhưng dấu móng ngựa xới tung nền cát bến sông vẫn còn hằn rõ. Đào Thế Doanh đứng tựa gậy tre đực, ánh mắt trầm ngâm dõi theo con đường thiên lý dẫn về huyện lỵ. Gió sông sớm mai phả hơi nước ngai ngái mùi rong rêu, mang theo dự cảm chẳng lành.
Chưa kịp quay lại lán thợ, Doanh đã nghe tiếng gậy trúc bịt đồng nện cập rập trên sỏi đá. Cụ Cửu Thiện thở dốc, râu tóc bạc phơ rung rinh, bước chân gấp gáp tiến lại gần: — Cháu Doanh! Có biến lớn rồi!
Doanh vội chống gậy bước tới đỡ lấy cánh tay gầy guộc của vị bô lão: — Cụ cứ bình tâm. Có chuyện gì mà cụ phải ra bến gấp thế này?
Cụ Cửu Thiện lắc đầu, giọng trĩu nặng âu lo: — Người nhà trên xóm vừa cấp báo, lão Lý Cương không thèm đợi hết hạn sáu mươi ngày nữa! Hắn mang ba mươi lạng bạc nén lên huyện đường đút lót cho đám lại dịch, đệ đơn thưa xưởng mộc Cổ Lũy tự tiện dựng cơ quan chắn ngang sông Trà. Hắn vu cho cháu tội đổi dòng chảy, đe dọa làm vỡ hệ thống đê điều của Hoàng triều ở hạ lưu!
Bàn tay Doanh khẽ siết chặt thân gậy tre, ánh mắt phẳng lặng như mặt giếng sâu. Anh thò tay chạm vào bọc vải điều bên hông—nơi cất giữ mảnh giẻ tẩm nhựa thông khét lẹt cùng xấp đồ bản mười hai guồng nước bọc kín trong vải dầu: — Thưa cụ, sông Trà mênh mông, guồng nước chỉ mượn sức nước mặt để quay bánh gỗ đưa nước ngọt lên dốc đá cứu dân, tuyệt nhiên không đắp đập ngăn dòng. Lão Lý vu vạ ắt nhằm bóp nghẹt công trình trước khi nước tràn lên đồng. Cháu đã giữ sẵn tang vật vụ phóng hỏa mấy hôm trước, cây ngay không sợ chết đứng.
Trần Đại Lực từ trong lán bước xộc ra, một tay lăm lăm vồ gỗ sến, bả vai quấn nẹp cật tre giật giật vì phẫn nộ: — Thầy Doanh, lão Lý đê tiện quá thể! Để con dẫn anh em chặn đường, xem đứa nào dám bước xuống bến này!
— Đại Lực, chớ có lỗ mãng! — Doanh nghiêm giọng — Đụng đến nha môn mà dùng nắm đấm chỉ khiến kẻ gian nắm thóp, biến lẽ phải thành tội nghịch.
Doanh quay sang nhìn đám thợ xẻ và tráng đinh đang hoang mang dừng tay cưa tay đục quanh các súc gỗ nghiến còn lại. Anh cất tiếng vang rền át cả sóng vỗ: — Bà con, anh em! Bờ xe nước số một đã quay êm, nước ngọt đã lên vách đá. Đó là mồ hôi, máu thịt của cả làng. Quân lệnh trạng sáu mươi ngày đêm đang đếm từng khắc, chậm một bước là đồng khô thêm một tấc. Mọi người cứ vững tâm đẽo mộng, so mực tim trục, không được để búa đục ngừng reo!
Khí phách điềm tĩnh của người thợ cả lập tức xua tan nỗi hoang mang. Đại Lực gật đầu nghe lời, dẫn tốp thợ rèn tiếp tục nung đai sắt. Tiếng đục cắc… cắc… bụp, tiếng vồ nện chan chát trên thớ gỗ lại vang lên rộn rã. Trúc Lan nhanh nhẹn bưng từng bát nước chè xanh ấm mời thợ thuyền, ánh mắt kiên định luôn dõi theo tiếp sức cho cha và mọi người.
Đến trưa, khi bóng nắng tròn vo dưới chân giàn giáo, một hồi thanh la rền rĩ kèm theo tiếng trống khẩu dồn dập vang lên từ triền dốc đá Bàn Than.
Bụi đỏ bốc mù mịt. Một toán nha sai huyện nha hơn mười tên, mặc áo nẹp chẽn màu chàm, tay lăm lăm đao trượng và xích sắt hùng hổ tràn xuống bãi cát bồi. Tên cai tuần mặt sắt đen sì đi đầu, vừa chạy vừa vung roi hét lớn: — Dẹp ra! Lũ cùng đinh mau dẹp hết ra! Lệnh huyện đường phong tỏa bến bãi, kẻ nào cản trở sẽ bị xích cổ tống giam!
Đám sai nha dàn hàng ngang bao vây khu vực bờ xe nước, gạt phăng các giàn củi tre, quát tháo ầm ĩ. Hai tên lăm lăm búa tạ xông thẳng về phía bệ đá guồng số một, giơ cao búa định đập vỡ then chêm ngõng trục gỗ nghiến.
— Dừng tay!

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…