Vặn Sóng Đài Cổ Đuổi Theo Vợ Tuổi Già
Chương 14: Cuộn Băng Màu Xám Tro
Ngón tay thô ráp của ông Điền dồn chút sức lực già nua ấn mạnh xuống. Nút bấm ghi âm màu đỏ lún sâu vào thân máy kèm theo tiếng “cạch” đanh gọn. Bên trong khay phát, hai trục nhựa màu trắng bắt đầu quay đều, kéo dải băng từ trượt chầm chậm qua đầu từ. Đèn tín hiệu đỏ au nhấp nháy liên hồi giữa bóng tối nơi chái bếp.
Gió Mộc Châu rít từng hồi buốt giá qua vách nứa liếp. Gian chái bếp tĩnh mịch chỉ còn tiếng bánh răng cọ xát ro ro êm ái của chiếc máy Sony TCM cổ lỗ. Ông Điền ghé sát chiếc micrô nhỏ xíu bên hông máy vào khóe môi khô nẻ, lồng ngực già nua phập phồng nghẹn ứ. Ông húng hắng ho nhẹ một tiếng để nén cơn run rẩy, rồi cất giọng khàn đặc:
“Bà nó này… Tôi… tôi Điền đây. Tôi biết bà còn giận tôi nhiều lắm, giận đến mức chẳng thèm nhìn mặt, chẳng buồn nghe tôi nói lấy một câu…”
Khoảng lặng ngột ngạt tràn vào cuộn băng. Ngón tay ông mân mê mép vỏ kim loại trầy xước. Nhựa thông trên chiếc bàn gỗ bên cạnh vẫn còn phảng phất mùi khét ngai ngái, nhắc nhớ bao năm tháng ông chỉ biết cắm mặt vào mỏ hàn và những bóng đèn chân không vô tri.
“Sáu mươi lăm năm qua, tôi tệ quá bà nhỉ?” Giọng ông Điền chùng xuống, mộc mạc mà cay đắng. “Từ hồi cưới nhau năm năm mươi chín ở Hàng Bông, lúc nào tôi cũng nghĩ đàn ông trong nhà có quyền quát tháo, ngồi rung đùi chờ vợ bưng bát cơm, rót chén trà. Tôi cậy mình thợ khéo, kiếm ra tiền, rồi tự cho mình cái quyền xem mọi việc bà làm là lẽ đương nhiên. Bát canh nguội tôi càu nhàu, manh áo sờn tôi gắt gỏng… Đến cả chiếc hộp bánh quy thiếc bà gìn giữ từng cuống vé xem phim, từng bức thư thời chiến, tôi cũng đem vứt ra thùng rác chỉ để lấy chỗ kê mấy cái bóng đèn hỏng…”
Nước mắt nóng hổi ứa ra từ khóe mi chằng chịt nếp nhăn, rớt trúng mặt kính máy cát-xét. Cổ họng ông nghẹn ắng. Trước nỗi đau mà người bạn đời âm thầm gánh chịu suốt hơn sáu thập kỷ, mọi lời giãi bày đều chỉ là sự bao biện trơ trẽn.
“Tôi không dám xin bà tha thứ ngay…” Ông ghé sát vào khe thu âm, giọng run bần bật, hơi thở phả mờ một góc kim loại. “Nhưng tôi sẽ ở lại cái chái bếp này cho đến khi nào bà chịu nghe tôi nói hết. Bà có muốn phạt tôi thế nào, tôi cũng chịu…”
Ngón tay run rẩy bấm phím dừng. Tiếng “tách” khô khốc vang lên, bánh xe ngừng quay, trả lại gian chái bếp sự câm lặng giữa đêm lạnh. Ông Điền nâng niu cuộn băng Maxell màu xám tro, cẩn thận đặt máy cát-xét vào sâu dưới đáy tay nải vải dù, rồi ôm tấm chăn chiên mỏng ngả lưng xuống phản gỗ thông.
Sáng hôm sau, khi nắng non rọi qua tán mận Nà Ka, sương sớm bắt đầu tan trên mái ngói rêu phong. Cụ Sùng A Vàng dậy từ sớm, khuân từng chiếc nong tre lớn ra khoảng sân đất trước cửa. Trên mặt nong rải đầy những phiến lá thuốc lào bánh tẻ vàng ruộm, tỏa mùi nồng ngái đặc trưng của núi rừng.
Thấy bạn già một mình loay hoay, ông Điền bước ra khỏi chái bếp, cất tiếng gọi:
“Bác Vàng để đấy, tôi ra đảo hộ cho một tay!”
Cụ Vàng dừng tay, đưa chiếc tẩu thuốc lên ngậm, nheo mắt nhìn dáng đi tập tễnh của ông thợ phố rồi cười xòa:
“Thôi thôi, ông Điền vừa mới đỡ mỏi chân, việc nương rẫy này nặng nhọc lắm, người phố quen ngồi bàn hàn không chịu nổi đâu!”
“Có gì mà không chịu nổi,” ông Điền gượng cười, bước tới bên chiếc nong tre đầu tiên. “Lá thuốc nhẹ hều, tôi lom khom một loáng là xong.”
Thế nhưng, vừa cúi rạp người xuống, một cơn buốt nhói bỗng xộc thẳng từ thắt lưng chạy dọc xuống đầu gối bên phải. Khớp xương thoái hóa như có hàng trăm mũi kim châm cùng lúc, khiến ông phải cắn chặt răng, đưa tay chống lên đùi giữ thăng bằng. Bàn tay thô ráp của ông lóng ngóng lật từng phiến lá thuốc dày bản, xếp lại ngay ngắn để đón trọn nắng sớm.
Chỉ mới đảo xong một góc nong mà mồ hôi hột đã rịn ra ướt đẫm trán, chảy cả vào kẽ kính lão buộc dây dù. Cột sống già nua của người đàn ông tám mươi chín tuổi căng cứng, từng thớ thịt rã rời như sắp sụp xuống.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…