Vành Vó Tre Vớt Rong Độc Biển Mây
Chương 9: Bếp Than Lán Cũ
Gió buốt từ vực thẳm lùa lên rít qua từng khe nẹp ván gãy, mang theo hơi ẩm mốc meo và mùi khét lẹt của đám tàn tro chưa nguội hẳn.
Dưới mái lán tre xiêu vẹo trơ trọi sau trận càn quét ban chiều, Chúc Diên Lạc khẽ nhíu mày, nén lại cơn đau rát buốt dọc sống lưng. Nhát lôi roi linh lực của Bành Chấn Hải cày xới da thịt cụ từ bả vai xuống tận thắt lưng, dù đã được rịt tạm lớp lá ngải cứu giã nhuyễn cùng tro nếp nhưng từng cử động nhỏ vẫn khiến mồ hôi lạnh rịn ra trán. Lão cụ một tay chống vào đầu gối, tay kia cầm que cời khẽ khều những mẩu than hồng trong chiếc lò đất nung cũ kỹ.
Đốm lửa đỏ le lói bừng lên, hắt ánh sáng ấm áp vào gương mặt hốc hác của những người đang ngồi quanh bếp. Tiểu Thạch ngồi bên cạnh, hai bàn tay quấn đầy vải thô nhuốm vệt máu khô, chốc chốc lại đưa mắt lo âu nhìn ra ngoài bóng đêm mịt mùng. Đằng sau cậu, dăm ba người thợ cất vó khỏe mạnh nhất xóm Mây Lặng — chú thợ mộc Trương, bác thợ nề Lưu — đều cúi gằm mặt, vẻ mặt nặng trĩu ủ dột.
“Bác Lạc à…” Chú thợ mộc Trương lên tiếng, giọng nghẹn đặc như nuốt phải cát: “Giàn cọc sến trăm năm gãy rụi rồi, vành vó nan tre cũng bị bẻ nát quăng xuống vực. Đám người trên thuyền bay mạ bạc tuyên bố chỉ cho ba ngày, nếu không tự dỡ xóm dời đi thì chúng sẽ thả xích sắt san phẳng nơi này. Thằng Cẩu nhà em với mấy đứa nhỏ vừa đỡ ho dăm bữa, nay ngửi mùi tro cháy lại sặc sụa nôn ra bợn đen. Hay là… hay là ta kéo nhau dạt xuống chân núi phàm trần mà tìm đường sống? Cố bám trụ trên vách đá này, e rằng khó toàn mạng.”
Tiếng thở dài não nuột của bác thợ Lưu nối tiếp trong màn đêm:
“Phải đấy bác Lạc. Chúng là tu sĩ Trúc Cơ ngự trên mây cao, búng tay một cái cũng đủ nghiền nát chúng ta như nghiền lũ kiến hôi. Lấy trứng chọi đá, sao đặng?”
Chúc Diên Lạc không đáp lời ngay. Cụ cẩn trọng nhấc chiếc ấm đất con con đặt lên kiềng sắt. Trong làn nước sôi sùng sục reo vang tiếng lách tách, cụ mở chiếc hộp thiếc hoen rỉ, nhón một nhúm váng mây Bạch Vân Cao khô giòn như sợi tơ tằm thả vào ấm. Mùi thơm thanh nhẹ, mát lành của sương mai và hoa cỏ đá bốc lên ngào ngạt, khoảnh khắc ấy như xua bớt đi mùi tanh nồng của rong độc đang bủa vây quanh vách núi.
Lão cụ rót nước trà ra mấy chiếc bát sành mẻ miệng, chìa hai tay bưng một bát đưa cho chú thợ Trương:
“Uống ngụm trà nóng cho ấm bụng đã, chú Trương. Gió vực đêm nay lạnh lắm.”
Bát nước trà ấm nồng chuyền tay nhau, hơi khói nghi ngút phả lên những khuôn mặt sạm đen vì sương gió. Chờ mọi người hớp xong ngụm trà đầu tiên, sắc mặt đôi phần hồng hào trở lại, Chúc Diên Lạc mới thong thả gạt tàn đóm, giọng trầm tĩnh:
“Các chú nhìn những bụi tre đực bám ngoài rìa rạn đá Nhai Thao kia xem. Đất mỏng chỉ chừng một lóng tay, bên dưới là vực sâu vạn trượng, quanh năm bốn mùa gió bấc quăng quật không ngớt. Có cơn bão nào từ biển mây tràn qua mà không muốn bứng gốc chúng đi? Thế nhưng trăm năm qua, tre đực chưa từng đổ. Vì sao?”
Cụ khẽ dừng lại, ánh mắt hiền từ quét qua từng gương mặt đang ngơ ngác lắng nghe:
“Bởi rễ tre không mọc cạn trên mặt đất. Rễ tre xé toạc thớ đá, bện chặt vào lòng núi sâu. Gió càng dữ, rễ càng siết chặt lấy đá mồ côi. Cây tre tồn tại được nhờ biết nương vào đá, người xóm Mây Lặng sống được là nhờ biết bọc lấy nhau.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…