Vết Rạn Hũ Tiểu Sành Phá Mối Oan Khiên
Chương 6: Bẫy Giăng Trong Đêm Đông
Gió bấc vẫn rít từng hồi lạnh buốt qua bến Than mù mịt sương xám. Mùi đá vôi nung khét lẹt trôi theo dòng sông Cả tạt vào gian chái như một lời thách thức trâng tráo.
Cụ Hoa Thiệu Hùng dời mắt khỏi khung cửa sổ, khẽ khép chặt liếp tre chắn gió rồi quay lại nhìn hai người trai trẻ bên bàn chuốt. Ánh mắt cụ ngưng đọng nét trầm tĩnh, bàn tay chai sần đặt lên vai Đỗ Văn Bản, giọng hạ thấp nhưng rành rọt từng tiếng:
— Thuyền chở vôi của lão Đặng Khắc Thụ đậu chật kín bến sông, lại thêm lời đe dọa ép dời mồ mả ngoài sân đình sáng nay, lão dám chắc kẻ gian không đợi hết hạn ba ngày mới ra tay. Chiều nay nhà họ Vũ và họ Bùi đã đào sẵn hai huyệt mộ mới trên gò Mã Vôi để sang cát vào rạng sáng mai. Nếu đêm nay ta không chốt giữ, hai huyệt đất ấy ắt lại thành mồi cho vôi độc.
Đỗ Văn Bản siết chặt thân côn sắt, gật đầu dứt khoát:
— Cụ dạy rất phải. Con đã cắt cử bốn anh em tuần đinh thân tín nhất, giả đò giải tán về nhà ngủ sớm để đánh lừa tai mắt của Lý trưởng Đinh Cửu. Chỉ đợi nửa đêm sương xuống, con sẽ dẫn anh em mật phục quanh hai miệng huyệt mới.
Trọng Lạc bước tới một bước, nét mặt cương nghị:
— Ông ơi, cho con đi với anh Bản! Con thuộc từng bụi tre gai, từng mô đất nhấp nhô ngoài bãi tha ma. Con không thể ngồi yên nhìn lũ gian tà bôi tro trát trấu vào danh dự xưởng gốm và làm kinh động người đã khuất!
Cụ Hùng nhìn Trọng Lạc, bắt gặp ngọn lửa hờn căm sục sôi trong mắt đứa cháu nuôi. Cụ hiểu tính nết chàng trai trẻ một khi đã quyết thì khó lòng cản nổi. Cụ vỗ nhẹ lên mu bàn tay rám nắng của Lạc, khẽ dặn:
— Được, con theo chú Bản đi mai phục, nhưng tuyệt đối phải nghe lời chỉ huy của chú ấy. Đêm đông sương muối độc lắm, lại đối mặt với kẻ thủ ác giấu mặt trong bóng tối, không được manh động khinh suất. Chú Bản nhớ mang thêm dây thừng và khăn ướt bịt mũi phòng khi chúng lại tung bột vôi độc.
— Cụ cứ yên lòng, con đã tính liệu chu toàn! — Đỗ Văn Bản chắp tay chào cụ rồi khẽ nghiêng mình lách qua cánh cửa liếp. Trọng Lạc vội vã với lấy tấm áo tơi lá cọ khoác lên vai, ngoái nhìn ông nội gật đầu một cái rồi nhanh chân bám sát theo bóng người tuần đinh trưởng chìm dần vào bóng đêm đặc quánh.
Gian chái xưởng gốm trở lại vẻ tĩnh mịch quen thuộc, chỉ còn tiếng củi thông lép bép cháy trong chiếc lò sưởi nhỏ nơi góc phòng.
Cụ Hùng rót một ngụm rượu nếp từ chiếc bầu gốm bên hông vào chén đất nung, chầm chậm nhấp một hớp nhỏ để xua đi cái rét căm căm đang ngấm vào da thịt già nua. Rời khỏi bàn chuốt, cụ bước ra ngồi xếp bằng trên chiếc chõng tre kê ngoài hiên, mắt đăm đăm nhìn qua rặng tre ngà về hướng gò Mã Vôi mờ mịt.
Đêm càng về khuya, sương muối phủ trắng xóa bờ sông Cả, lạnh thấu xương tủy. Cảnh tượng sương lạnh và tiếng gió hú u u qua bãi bồi ven sông bỗng gợi nhắc lòng cụ về một đêm mưa bão rúng động đúng mười năm về trước.
Đêm ấy, mưa nguồn trút xuống như thác đổ, nước sông Cả cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa dâng mấp mé bờ đê. Khi cụ ra bến vớt củi rều thì nghe thấy tiếng kêu cứu nghẹn ngào, tuyệt vọng xé toạc màn mưa giông từ phía bãi vôi hoang tàn. Nhưng khi cụ lần theo tiếng kêu chạy tới nơi, mọi âm thanh đã tắt lịm trong tiếng gầm gào của sóng nước. Trên doi cát ngập ngụa bùn lầy, chẳng có bóng dáng người phu gánh nước Trần Khắc Đạt chăm chỉ, hiền lành đâu nữa, mà chỉ còn trơ trọi một chiếc đòn gánh tre bị chém gãy đôi và một đứa trẻ mười tuổi đang rét run, đói lả nằm co quắp bên bờ lau sậy.
Đứa bé mồ côi ấy chính là Trọng Lạc. Mười năm cụ cưu mang, dạy bảo từng thớ đất, ngọn lửa lò, đứa trẻ năm nào nay đã vạm vỡ nên người. Thế nhưng nỗi day dứt khôn nguôi về người cha đoản mệnh của đứa trẻ, về cái chết mất tích đầy uẩn khúc trong đêm mưa năm xưa vẫn như một hòn than âm ỉ thiêu đốt tâm can cụ già suốt một thập kỷ qua.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…