Vết Rạn Hũ Tiểu Sành Phá Mối Oan Khiên
Chương 9: Đối Chất Nơi Ngã Ba Sông
Cụ Hoa Thiệu Hùng đỡ Trọng Lạc đứng dậy, khẽ vỗ về bờ vai đang run lên từng chặp của chàng trai trẻ. Dưới ánh sáng vàng vọt hắt ra từ đĩa đèn dầu lạc, bộ hài cốt mục nát cùng nửa chiếc đòn gánh gãy nằm lặng lẽ trên tấm chiếu hoa nơi góc chái nhà, tỏa ra luồng hàn khí ẩm lạnh của mười năm vùi chôn oan khuất. Cụ Hùng quay sang Đỗ Văn Bản, giọng trầm tĩnh nhưng dứt khoát:
— Chú Bản ở lại đây trông nom cho Lạc và giữ gìn di cốt anh Đạt. Mối thù này không thể giải bằng máu nóng và đao búa. Lão phải đi một chuyến.
— Cụ định đi đâu trong đêm hôm thế này? — Đỗ Văn Bản lo lắng siết chặt cây côn sắt.
— Ra bến Than. Tìm kẻ gieo gió để dằn mặt trước khi trời hửng sáng.
Cụ Hùng gói nắm bột vôi trắng lẫn phèn chua thu được ở đáy huyệt vào một mảnh giấy bản dày, cất vào túi áo nâu sồng, đoạn cầm lấy chiếc mai đào đất dính máu còn in dấu triện ba ngọn lửa. Thấy Trọng Lạc ngước mắt nhìn lên đầy vẻ thảng thốt, cụ nghiêm giọng dặn dò:
— Con ở yên đây nén nhang cho cha. Hãy tin ở lão già này.
Bỏ lại sau lưng tiếng sụt sùi kìm nén và hơi ấm le lói của gian lò gốm, cụ Hùng chống gậy tre rảo bước qua con đường đê hun hút gió. Gió bấc từ lòng sông Cả thổi thốc vào mặt buốt rát như kim châm. Ngã ba sông mờ mịt trong màn sương muối dày đặc, nơi những con thuyền buôn đá vôi sừng sững gối đầu vào bãi bồi ven bến Than. Khói từ các lò nung vôi dã chiến chưa tàn bốc lên nghi ngút, quyện với mùi đá tôi khét lẹt nồng nặc cả một vùng.
Trên chiếc thuyền gỗ lòng bản lớn nhất đang buông neo sát bờ, ánh đèn lồng đỏ hắt ra những vệt sáng nhờ nhợ trên mặt nước dập dềnh. Cụ Hùng bước lên ván cầu, gõ mạnh đầu gậy tre xuống sàn lim.
Đám gia nhân gác thuyền toan xông ra quát tháo, nhưng cánh cửa khoang thuyền bỗng kẹt mở. Bá hộ Đặng Khắc Thụ bước ra, trên người vẫn khoác chiếc áo gấm the sẫm màu, tay phe phẩy chiếc quạt xếp đồi mồi quen thuộc. Thấy bóng dáng cao gầy của lão nghệ nhân, gã khẽ nhướng đôi mày rậm, cặp mắt lươn giảo hoạt lóe lên tia nhìn dò xét rồi nhanh chóng nở nụ cười giả lả:
— Kìa, ngọn gió độc nào lại đưa cụ Hùng tôn kính lặn lội ra tận bến Than này giữa canh tư giá rét thế? Chẳng hay xưởng gốm họ Hoa đã tìm ra cách bồi thường ba mươi quan tiền cho làng, hay cụ đến đây sớm để xin bản bá hộ rủ lòng thương gia hạn?
Cụ Hùng không buồn đáp lời chào mời đãi bôi ấy. Cụ sải bước vào giữa khoang thuyền, đặt mạnh chiếc mai đào đất xuống mặt bàn gỗ mun trước mặt Bá hộ Thụ. Lưỡi mai bằng sắt va vào mặt gỗ phát ra một tiếng “keng” chát chúa. Vết máu khô thẫm và lớp bột trắng bám quanh lưỡi mai đập ngay vào mắt gã hào phú.
— Lão đến đây không phải để cầu xin — Cụ Hùng cất giọng trầm đanh, từng lời ghim chặt vào không gian tĩnh mịch — Chiếc mai này, hẳn ông Bá hộ nhìn không hề lạ mắt.
Đặng Khắc Thụ khựng lại một thoáng, quạt xếp trên tay hơi khựng nhịp. Gã liếc nhìn dấu triện ba ngọn lửa khắc chìm nơi chuôi gỗ lim, nhưng khóe miệng chỉ thoáng co giật rồi lập tức nhếch lên nụ cười trịch thượng:
— Ồ, chiếc mai đào đất của lò vôi nhà tôi. Cụ nhặt được ở xó nào mà mang đến đây làm trò? Lò vôi bến Than nuôi hàng trăm phu phen tạp dịch, việc mất mát vài ba cái nông cụ sắt là chuyện thường ngày ở huyện. Chắc có đứa trộm cắp nào vứt bừa bãi rồi cụ tha về đấy phỏng?
— Trộm cắp nông cụ? — Cụ Hùng cười nhạt, ánh mắt quắc thước như nhìn thấu tim can đối phương — Kẻ trộm này to gan thật, đêm hôm khuya khoắt không lo giấu của, lại vác mai khắc dấu lò họ Đặng ra gò Mã Vôi rải thứ độc chất này xuống lòng huyệt người chết!
Cụ Hùng rút mảnh giấy bản ra, mở toang trước mặt Đặng Khắc Thụ. Nắm bột vôi sống nung chín trộn phèn chua và lưu huỳnh hiện rõ mồn một. Cụ chấm một ngón tay thô ráp vào bột vôi, gằn giọng:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…