Vỏ Quả Phơi Khô Đánh Bạt Hàn Độc Đan Viện
Chương 2: Vết Sương Trái Mùa
Hàn khí buốt nhức từ đầu ngón tay dội ngược lên tận vai khiến cụ Mạch Thu Thảo rùng mình, vội vận chuyển luồng linh lực mỏng manh của tu vi Luyện Khí tầng hai để xua tan cảm giác tê dại.
Vệt tinh thể màu tím ngắt trên ngón tay cụ không chịu tan đi trước hơi ấm cơ thể, mà trái lại còn tỏa ra làn khói sương mờ mịt, chầm chậm gặm nhấm vào da thịt chai sần. Cụ Mạch liền đưa tay miết mạnh lên mép tảng đá xanh ven sân phơi, chà xát hồi lâu mới cạo sạch được lớp tinh thể quái dị ấy. Nơi da thịt vừa tiếp xúc để lại một vệt thâm sì, tê buốt như kim châm.
Trời đã hửng sáng, nhưng chẳng hề có lấy một tia nắng ban mai rạng rỡ. Cả bầu trời phía trên dãy Lạc Vân Sơn bị mây mù xám xịt giăng kín như một tấm vải gai thô dày cộp đè nặng xuống đỉnh núi. Gió bấc từng cơn vẫn thổi phần phật qua những rặng trúc ven rào, mang theo hơi ẩm buốt lạnh lẽo.
Cụ Mạch khẽ vén một góc bạt gai thô của chiếc nong tre cạnh bên, cẩn thận nhấc một phiến lá Bạch Chỉ đang hong dở lên trước mắt. Giọt sương sớm đọng ở chóp lá cũng đã ngưng kết thành hạt châu li ti mang sắc tím nhạt. Điều khiến cụ giật mình là mép lá thuốc quanh giọt sương không chỉ bị đông cứng, mà các đường gân xanh tươi vốn có đang nhanh chóng tóp lại, thâm sì và rữa nát ra như bị dội qua nước sôi.
Tính chất ăn mòn sinh cơ này hoàn toàn khác biệt với sương giá mùa đông thông thường. Sương lạnh mùa đông chỉ bám ngoài mặt lá làm ngưng đọng nhựa sống tạm thời, khi nắng lên là tan biến; đằng này, giọt sương tím lại như một loài sâu độc vô hình, rút cạn từng chút sinh khí bên trong thớ thuốc non nớt.
Lòng cụ thắt lại, cảm giác bất an dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng. Cụ Mạch vội kéo chặt vạt bạt gai, bước nhanh về phía căn lán vách nứa tồi tàn của mình.
Đẩy cánh cửa nứa khép hờ, cụ bước vào góc tối bên chõng tre ọp ẹp. Đưa tay gỡ phiến ván sàn mục nát, cụ cẩn thận lôi ra một chiếc hộp gỗ thông nhỏ đã lên nước bóng lộn vì năm tháng. Mở nắp hộp, bên trong là cuốn “sổ tay mục thảo” dày cộp đóng bằng vỏ cây rừng thô sơ, mép giấy xơ xác ngả màu vàng ố. Đó là tất cả vốn liếng tích cóp suốt một trăm bảy mươi hai năm cụ gắn bó với Đan Viện, ghi chép tường tận từng trận mưa, con nắng, từng độ ẩm của đất và tính nết của hàng trăm loài cây cỏ phàm trần lẫn linh thảo sơ giai.
Cụ Mạch lần giở từng trang giấy ráp thô, ngón tay run rẩy lướt qua những nét chữ nguệch ngoạc mộc mạc viết bằng mực pha nhựa cây thông. Cho đến khi lật tới trang giấy vẽ một nhánh cỏ rũ ngọn bên cạnh ký hiệu ba vệt chấm tím, cụ liền dừng lại.
Đó là ghi chép về trận sương giá dị thường diễn ra vào năm cụ mới hăm mốt tuổi, vừa bước chân vào làm tạp dịch Đan Viện tròn một trăm bảy mươi năm trước. Năm ấy cũng vào cuối thu chớm đông, sương muối buông xuống nhuốm sắc lam nhạt, làm hỏng một phần ba diện tích dược điền của Tiên Tông. Khi đó, các trưởng lão đã phải dùng đến hàng ngàn khối linh than và trận pháp hỏa hệ mới cứu vãn được cục diện.
Nhưng dòng ghi chép năm xưa hiện rõ mồn một trước mắt cụ: “Sương sắc lam, lạnh thấu tủy nhưng chỉ làm rụng lá, gặp than củi thường còn tan.”
Cụ Mạch nhìn vệt thâm tím còn đau nhức trên đầu ngón tay mình, rồi ngước mắt nhìn ra phía sân phơi qua khe liếp. Lần này sắc sương không phải màu lam nhạt, mà là sắc tím sẫm ngưng đọng như máu độc. Khí lạnh không bốc lên bề mặt mà chìm sâu gặm nhấm rễ cây, ăn mòn sinh cơ. Tai ương nghìn năm đang lặp lại, nhưng với mức độ hung hiểm gấp bội phần, vượt xa những gì mà Đan Viện từng đối mặt trong dĩ vãng.
“Bà ơi, cháu nhặt được một ôm cành bàng khô với củi thông vụn ngoài bờ mương này!”
Tiếng gọi trong trẻo kéo cụ Mạch thoát khỏi dòng suy tưởng mông lung. Tiểu Đậu Tử khệnh khạng ôm một bó củi lớn bước vào cửa lán, hai má thằng bé đỏ ửng vì gió rét, trán lấm lem tro trấu và mạng nhện. Nó đặt bó củi xuống cạnh chiếc bếp lò đất nung rồi đưa hai bàn tay nhỏ thó xoa xoa vào nhau cho đỡ cóng.
“Đứa nhỏ này, trời lạnh thế sao không chịu ngồi yên trong ổ rơm sưởi ấm, lại chạy ra ngoài gió làm gì?” Cụ Mạch khẽ khàng gấp cuốn sổ tay lại, ánh mắt tràn ngập vẻ xót xa.
Tiểu Đậu Tử cười ngây ngô, hàm răng sún lộ ra bên khóe môi nứt nẻ:
“Cháu gom củi để nhen bếp un ấm cái lán cho bà đỡ nhức khớp xương lưng. Mấy hôm nay gió trở mùa, cháu thấy nửa đêm bà cứ trở mình mãi.” Thằng bé vừa thoăn thoắt bẻ mấy que củi vụn nhét vào cửa lò, vừa hào hứng nói tiếp: “Với lại cháu phải dậy sớm làm việc cho chăm, để cuối tháng Bàng chấp sự không có cớ trừ linh thạch của cháu. Mẹ cháu ở phàm trần mắt mù lòa quanh năm, chỉ ngóng trông chút linh thạch vụn này gửi về đổi lấy vài thang Ôn Tỳ Thang uống qua mùa đông buốt giá thôi bà ạ.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…