Xích Sắt Neo Ngầm Khóa Chặt Vực Như Nguyệt

Chương 2: Cụ già bên bễ than Từ Sơn

Từ phía bến Lạc Vệ, tiếng tù và man rợ của lũ giặc Bắc rúc lên từng hồi quái đản, hòa cùng tiếng đá hộc xé gió ầm ầm dội qua rặng tre ngà. Đất trời phủ Từ Sơn rung chuyển dưới bước tiến của mười vạn quân thù đang lăm le tràn qua bờ cõi. Giữa không gian ngột ngạt mùi khói lửa và bụi bặm bay mù mịt, gian nhà rèn cổ truyền của họ Thư vẫn vững chãi như một pháo đài trầm mặc giữa thôn xóm.

Cụ Thư Hoài Đức đứng sừng sững bên bễ than rực lửa. Mái tóc bạc phơ cùng chòm râu dài chấm ngực khẽ lay động theo luồng nhiệt hầm hập phả ra từ họng lò. Đã tám mươi hai tuổi đời, dạn dày qua biết bao mùa dâu bể, lưng cụ vẫn thẳng tắp, đôi cánh tay nổi gân cuồn cuộn như những rễ lim già bám chặt lòng đá núi. Tay trái cụ kẹp chặt đôi kìm sắt lớn ghì thỏi phôi đỏ rực trên mặt đe đá, tay phải vung chiếc búa tạ nặng mười lăm cân nện xuống đều đặn.

Chan! Chát! Chan!

Từng nhát búa giáng xuống dứt khoát, tóe ra ngàn đốm hoa lửa vàng rực trong buổi sớm giá buốt. Đôi mắt đồi mồi của cụ nheo lại, rọi thẳng vào thớ thép đang chuyển từ đỏ thẫm sang hồng tươi. Tiếng chiêng trống thúc trận từ bến sông vọng về mỗi lúc một dồn dập, nhưng nhịp thở và đường búa của cụ già bát tuần vẫn thong dong, trầm tĩnh lạ thường. Với cụ, mỗi tiếng đe vang lên là một lời thề giữ đất gửi gắm vào non sông.

Cánh liếp nứa bỗng bị xô bật sang hai bên. Thư Hoài Cương hớt hải lao vào, hơi thở đứt quãng, trên người nồng nặc mùi bùn lầy và mồ hôi khét lẹt. Chàng thanh niên quẳng mạnh thanh sắt gãy xuống nền đất, hai hàm răng nghiến chặt, lồng ngực vạm vỡ phập phồng giận dữ:

“Ông nội! Thuyền bọc da trâu của thằng Quách Quỳ đã nhổ neo tràn sang rồi! Cung tiễn bắn không thủng, đá hộc ném qua đập nát cả rào tre bến Lạc Vệ. Thế mà viên thập trưởng lại đuổi cháu về bễ rèn, không cho cầm giáo giữ lũy! Chẳng lẽ lúc nước sôi lửa bỏng thế này, cháu cứ phải chôn chân ở góc lò gõ mấy thanh sắt cùn hay sao?”

Cụ Đức không hề ngẩng đầu. Chiếc búa nặng trong tay cụ vẫn nện thêm ba nhát đanh gọn, uốn cong mép phôi kim loại thành một vòng cung hoàn mỹ, đoạn mới thong thả hạ búa tựa vào mép đe. Cụ dùng kìm gắp thanh sắt nhúng ngập vào vò nước tro gai cạnh bễ. Tiếng rít xèo xèo bốc lên ngùn ngụt cùng làn khói trắng cay nồng sực vào sống mũi.

Khói tan bớt, cụ mới ngước nhìn đứa cháu nội đích tôn. Ánh mắt thâm trầm, nghiêm nghị ấy khiến Cương bất giác chững lại, cơn bốc hỏa bỗng chốc thu mình trước uy nghi của người thợ già đại thụ.

“Cương! Con tưởng chỉ có cầm giáo mác ngoài bãi cát mới là giết giặc cứu nước sao?” Tiếng cụ Đức vang rền như tiếng đe đồng thau, đanh thép rót vào tai chàng trai trẻ. “Ngọn giáo sắc do tay ai rèn? Tấm khiên đồng do tay ai đúc? Binh sĩ ra trận mà cầm phải giáo gãy, mác cùn thì lấy gì cản nổi bước kỵ binh Tống? Một nhát búa con giáng xuống mặt đe lúc này, nếu dốc trọn cái tâm và ý chí, sức nặng của nó chẳng kém gì mũi giáo đâm thẳng vào tim quân thù!”

Cương cúi gằm mặt xuống, bàn tay siết chặt vạt áo nâu thô ráp, đôi vai khẽ run lên vì bẽ bàng và xúc động.

Cụ Đức bước lại gần, vỗ nhẹ lên bờ vai vạm vỡ của cháu:

“Theo ông vào đây.”

Cụ đi về phía góc tối gian nhà rèn, nơi đặt chiếc hòm gỗ lim già đóng đai đồng sáng bóng. Cụ rút chùm chìa khóa bên hông, cẩn trọng mở then khóa. Từ trong lớp vải lụa điều đã ngả màu năm tháng, cụ nâng niu lấy ra cuốn sách da trâu bọc gáy lụa chàm mang tên “Bách Nghệ Dã Luyện Thư”. Đây là bí lục gia bảo truyền qua bốn đời thợ rèn đất Từ Sơn, kết tinh bao tinh hoa kim khí của tiền nhân.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Hát Long
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Hát Long

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…