Xích Sắt Neo Ngầm Khóa Chặt Vực Như Nguyệt
Chương 23: Hòa ước trên bãi cạn
Gió bấc buổi sớm xua dần lớp khói xám bảng lảng trên mặt nước, để lộ doi cát bồi ven bến Lạc Vệ còn vương tàn than và phù sa ướt lạnh. Cụ Thư Hoài Đức đứng vững chãi trên bờ công sự, bên cạnh là Thái úy Lý Thường Kiệt. Hai bàn tay gân guốc của người thợ già bát tuần nắm chắc vỏ thanh kiếm lệnh Tiết độ sứ, cảm nhận từng đường khảm đồng thau mát lạnh dưới ngón tay. Đôi mắt đồi mồi sáng quắc của cụ dõi theo chiếc thuyền nan do Nguyễn Phục chèo lái đang áp giải chiếc thuyền thoi mang cờ trắng của quân Tống từ từ cập vào mép bãi cạn.
Mũi thuyền vừa ghé bãi cát, viên chánh sứ giặc mặc áo thụng xanh đã lảo đảo bước xuống, vấp ngã quỳ sụp giữa lớp bùn nhão. Hai tay y run rẩy nâng cao chiếc tráp gỗ sơn son quá trán, đầu dập lia lịa xuống bãi sông, giọng nghẹn ngào vì sợ hãi:
“Thừa chỉ Đô chỉ huy sứ Quách Quỳ… kính cẩn dâng biểu xin hòa nghị! Đại quân triều Tống… xin bãi binh rút sạch về Bắc, nguyện trả lại bờ cõi cho quý quốc!”
Cụ Đức nheo mắt nhìn tấm lưng đang run bắn lên của viên sứ thần phương Bắc. Mới hôm qua thôi, lũ giặc còn xua hàng trăm chiến thuyền bọc da trâu nghênh ngang đòi san phẳng chiến lũy bờ Nam, nay chỉ còn là những kẻ bại trận khiếp nhược, cúi đầu trước oai linh non sông Đại Việt.
Thái úy Lý Thường Kiệt đứng sừng sững trong chiến bào lụa chàm, giáp đồng thau ánh lên sắc vàng rực rỡ dưới ánh rạng đông vừa hé. Người không rút gươm, cũng chẳng lộ nét kiêu căng của bậc chiến thắng, phong thái trầm tĩnh tự tại như đỉnh núi sừng sững giữa trời mây. Thái úy khẽ phất tay cho vệ sĩ đón lấy chiếc tráp gỗ sơn son, mở bức biểu xin hòa đọc lướt qua một lượt, rồi cất giọng sang sảng vang rền khắp doi cát:
“Nước Đại Việt ta từ xưa đến nay lấy đức hiếu sinh làm gốc, chuộng điều hòa hảo, chẳng hề ham thích đao binh. Lũ giặc các ngươi cậy quân đông giáp dày, dấy binh xâm phạm bờ cõi, khiến sinh linh đôi bên lầm than. Nay hạm đội bọc da trâu đã vùi xác đáy nước, thế cùng lực kiệt mới biết hối lỗi cúi đầu. Bản chức chấp thuận lời thỉnh cầu bãi binh nghị hòa, mở cho các ngươi một con đường sống rút về Bắc triều, giữ trọn nền thái bình muôn thuở cho xã tắc hai nước.”
Viên chánh sứ nghe dứt lời như trút được gánh nặng nghìn cân, vội vã dập đầu ba lạy sát bãi cát rồi khúm núm thưa:
“Đại ân đức của Thái úy và quý quốc, mười vạn tàn quân phương Bắc trọn đời không dám quên!”
Chứng kiến viên quan Tống run rẩy quay đầu lui ra thuyền nhỏ để báo tin lui binh, lồng ngực cụ Thư Hoài Đức rộn lên niềm xúc động khôn xiết. Bằng một quyết sách thấu suốt lòng trời dạ đất, vị danh tướng triều đình không chỉ đập tan cuộc xâm lăng mà còn chấm dứt cảnh máu chảy đầu rơi, gieo mầm an định dài lâu cho xóm làng bờ cõi.
Khi bóng chiếc thuyền cờ trắng rẽ sương quay về bờ Bắc, cụ Thư Hoài Đức bước lên nửa bước, cung kính nâng thanh bảo kiếm bằng cả hai tay hướng về phía Lý Thường Kiệt. Giọng cụ sang sảng, ấm áp và đĩnh đạc:
“Bẩm Thái úy! Lão phu cùng phường thợ rèn chín xã mười thôn phủ Từ Sơn đã hoàn thành trọn vẹn lời thề trước non sông đất nước. Ba ngàn đoạn xích ngạnh ba chấu đã khóa chặt hạm đội thuyền giặc dưới đáy Vực Như Nguyệt, giữ yên chiến lũy bến Lạc Vệ. Nay bờ cõi sạch bóng quân thù, lão phu xin trang trọng trao hoàn thanh kiếm lệnh Tiết độ sứ lại cho triều đình.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…