Xích Sắt Neo Ngầm Khóa Chặt Vực Như Nguyệt
Chương 8: Tro gai tôi thép
Đứng bên dàn đe cái trung tâm, cụ Thư Hoài Đức vuốt chòm râu bạc dài chấm ngực, dõi mắt nhìn đứa cháu đích tôn vừa uống xong bát chè vối ấm. Thấy bước chân Cương khựng lại rồi quay ngoắt người, nét mặt đanh lại đầy vẻ cảnh giác, linh tính của người thợ già từng trải hơn tám mươi năm giông bão mách bảo cụ có điều chẳng lành.
Cương bước vội tới sát bên đe, hạ giọng thì thào: “Ông nội, gã thợ phụ mới đến có vết sẹo dài ở cổ tay cứ lấm lét nấp sau gốc lim dòm ngó kho than quặng và sơ đồ lò cái của ta.”
Cụ Đức nheo đôi mắt sáng quắc trên gương mặt đồi mồi, nhìn qua khe ván lều về phía gốc cây cổ thụ. Dưới ánh than bập bùng, cụ vừa kịp thấy bóng đen gầy guộc lủi nhanh vào rặng cây rậm rạp. Cụ đặt bàn tay gân guốc lên vai Cương, trầm giọng dặn dò: “Đừng bứt dây động rừng, cháu à. Lũ giặc Bắc quỷ quyệt khôn lường, thấy ta lập đại xưởng ắt tìm cách dò la. Cháu ngầm dặn tráng đinh thắt chặt canh phòng kho than bồ quặng, để mắt gã có vết sẹo ấy nhưng chớ vội đánh động. Việc trước mắt của ta là rèn xong xích khóa sông, không thể lỡ một khắc.”
Lời cụ vừa dứt, từ các lò phụ ven bìa rừng bỗng vang lên tiếng “rắc... rắc” khô khốc. Tiếng búa đe ngưng bặt, kèm theo tiếng thở dài sườn sượt của cánh thợ trẻ.
Bác thợ cả làng Đa Hội cùng hai người thợ làng Trang Liệt hớt hải bưng mấy đoạn xích sắt chạy xộc vào gian lò cái. Mắt xích còn bốc khói, nhưng bề mặt thép nứt toác ngoằn ngoèo, từng mảng vảy sắt xám xịt bong tróc rơi lả tả.
“Cụ Thư ơi, hỏng hết rồi!” Bác thợ cả Đa Hội nghẹn ngào. “Chúng con vừa quai xong mẻ xích, nung đỏ rực rồi nhúng thẳng vào máng nước sông Như Nguyệt để tôi nguội. Nào ngờ nước vừa sôi lên thì mắt xích đã nứt toác, giòn rụm như bánh đa nướng. Cứ thế này làm sao cản nổi thuyền giặc!”
Cụ Đức đón lấy thanh xích gãy, bàn tay chai sạn cẩn thận miết dọc vết nứt xỉn màu. Nước sông mùa đông buốt giá lại ngậm bùn khoáng mặn mòi. Thép quặng đỏ nung than lim già gặp nước lạnh co thắt đột ngột, khiến lõi gang xốp chưa kịp ngậm chặt vỏ thép ngoài đã rạn vỡ, sinh ra vết nứt giòn gãy chết người.
Nhìn quanh gian lều, cụ thấy hàng chục cặp mắt thợ cả khắp chín xã mười thôn đang đổ dồn về phía mình, hoang mang tột cùng. Địch ở bờ Bắc chực chờ vượt sóng, nếu không trị được chứng giòn nứt này thì ba ngàn đoạn xích khóa sông sẽ thành đống sắt vụn vô dụng.
Cụ Đức hít sâu một hơi, ngực phập phồng kiên định. Cuốn “Bách Nghệ Dã Luyện Thư” gia bảo truyền bốn đời họ Thư vốn có lời răn nghiêm ngặt không truyền bí thuật ra ngoài họ tộc. Nhưng lúc này non sông lâm nguy, giữ riêng bí quyết làm gì khi nước mất nhà tan?
Cụ ngẩng cao đầu, cất giọng sang sảng: “Bà con thợ rèn Từ Sơn nghe lão! Thép này là thép hộ quốc, gang này là gang ghì giữ giang sơn, không thể tôi bằng nước sông tầm thường! Muốn xích ngậm bùn đáy vực không rỉ sét, càng giằng càng dẻo dai, phải dùng nước tôi tro gai dại!”
Thấy các thợ cả kinh ngạc ngóng đợi, cụ Đức phân công rành rẽ: “Cương, cháu dẫn tráng đinh cầm rựa ra bãi bồi ven đê gom hết cây gai dại mọc hoang về đây. Cây gai càng già, tro đốt ra càng đượm! Các lò phụ chuẩn bị máng lim lớn, múc nước ót khoáng ngầm từ giếng đá ong đổ đầy vào cho lão!”
Chỉ trong chốc lát, dân binh lũ lượt gánh về hàng trăm gánh gai dại rậm rạp. Những thân gai khô héo được chất đống quanh bìa rừng, đốt thành những đống than tro trắng mịn. Tro gai mịn như bột gạo được sàng qua lớp vải thưa, rồi trút thẳng vào máng nước ót khoáng ngầm hòa cùng muối hạt trắng tinh.
Mùi hăng nồng cay xè của tro gai quyện vị mặn mòi bốc lên ngào ngạt. Cụ Đức cầm sào gỗ khuấy đều máng nước cho đến khi nước ót chuyển màu đùng đục, quánh nhẹ như nước hồ non.
“Đỏ lửa lò cái!” Cụ quát lớn.
Hoài Cương cùng bốn thợ phụ lực lưỡng vung búa quai dồn dập, ép chặt thỏi gang xốp vào phiến thép quặng đỏ. Dưới bàn tay điêu luyện của Cương, một mắt xích ngạnh ba chấu đỏ rực màu hoa đào chín ngấu ra đời.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…